Tin Quân Sự - Blog tin tức Quân sự Việt Nam: HQ-011 Đinh Tiên Hoàng và HQ-012 Lý Thái Tổ

Paracel Islands & Spratly Islands Belong to Viet Nam !

Quần Đảo Hoàng Sa - Quần Đảo Trường Sa Thuộc Về Việt Nam !

Hiển thị các bài đăng có nhãn HQ-011 Đinh Tiên Hoàng và HQ-012 Lý Thái Tổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HQ-011 Đinh Tiên Hoàng và HQ-012 Lý Thái Tổ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

>> Việt Nam sẽ có thêm 2 tàu Gepard năm 2016-2017


Nhà máy đóng tàu Zelenodolsk của Nga sẽ xây dựng 2 chiến hạm Gepard 3.9 cho Việt Nam theo dự án 11661E chỉnh sửa. Việc khởi đóng chiếc thứ nhất được thực hiện vào tháng 6/2013, sau đó tiếp tục khởi đóng chiếc thứ hai.

>> So sánh Molniya Việt Nam và Houbei 022 của Trung Quốc

Tổng Giám đốc nhà máy đóng tàu Zelenodolsk, ông Renat Mistakhov trả lời hãng ITAR-TASS tại Triển lãm quốc tế LIMA 2013 cho biết: "Việc khởi công đóng chiếc tàu thứ nhất của Việt Nam theo hợp đồng sẽ được thực hiện vào tháng 6/2013, sau đó sẽ tiếp tục khởi công đóng chiếc thứ hai. Thời hạn chuyển giao những chiếc tàu này cho Việt Nam dự kiến là trong năm 2016 và 2017".


Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
HQ-011 và HQ-012 của Hải quân Việt Nam

Độ rẽ nước của Gepard-3.9 là 2.100 tấn, chiều dài 105m, rộng 13,7m, tầm hoạt đông ở vận tốc 10 hải lý/h khoảng 5.000 hải lý, tốc độ tối đa hơn 30 hải lý/h (hơn 56km/h), thủy thủ đoàn 103 người, thời gian tối đa cho một chuyến đi là 20 ngày đêm.

Tàu được trang bị các hệ thống tên lửa chống hạm URAL và các hệ thống tên lửa phòng không, pháo, các vũ khí chống hạm, chống ngư lôi khác. Ngoài ra, tàu cũng được trang bị các máy bay trên boong loại KA-28 hoặc KA-31. Mỗi tàu cũng có một nhà chứa đối với một máy bay loại này.


Trước đó, năm 2007, nhà máy Zelenodolsk cũng đã khởi đóng 2 tàu Gepard-3.9 khác cho Việt Nam và đã được chuyển giao cho Việt Nam vào năm 2011.

Tàu hộ tống thuộc dự án 11661E loại Gepard-3.9 chuyên thực hiện các nhiệm vụ tìm kiếm, theo dõi, chống các mục tiêu nổi, ngầm, trên không; thực hiện các nhiệm vụ hộ tống, tuần tiễu và bảo vệ khu vực kinh tế.

Cũng trong buổi triển lãm, Tổng giám đốc Nhà máy đóng tàu Vưmpel, ông Oleg Belkov thông báo rằng, chiếc đầu tiên trong 6 chiếc tàu tên lửa Molniya (Tia chớp) thuộc dự án 12418 hiện đang được xây dựng tại Việt Nam theo sự cấp phép của Nga, sẽ được bàn giao cho khách hàng vào cuối năm 2013. "Chiếc thứ hai hiện đang nằm trong xưởng và chiếc thứ ba thì đang chuẩn bị đóng".

Nhà máy đóng tàu Vưmpel đã giúp Việt Nam trong việc xây dựng hàng loạt các tàu tên lửa Moniya thuộc dự án 12418. Nhà máy sản xuất và cung cấp cho Việt Nam các bộ phận và chi tiết đồng bộ để phía Việt Nam có thể lắp ghép 06 chiếc tàu tên lửa Moniya thuộc dự án 124118 đầu tiên, phù hợp với tiến độ đã được ấn định.

Việc sản xuất các tàu này được diễn ra dưới sự giám soát kỹ thuật từ phía Cục thiết kế hàng hải Trung ương Almaz tại Saint-Peterburg và nhà máy đóng tàu Vưmpel.

Việt Nam dự định đóng tất cả 10 tàu tên lửa loại này, trong đó 06 chiếc nằm trong một hợp đồng xây dựng.

Nhà máy Vưmpel bắt đầu cung cấp các bộ phận, linh kiện cho 06 chiếc tàu này của Việt Nam từ năm 2010 trong khuôn khổ các hợp đồng và công việc này sẽ được tiếp tục cho tới năm 2016.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Tàu tên lửa Molniya.

Trong hợp đồng đóng tàu tên lửa thuộc dự án 12418 Moniya cho Việt Nam, hai bên cũng đã thỏa thuận về phương án xây dựng 4 tàu còn lại. Phương án này sẽ trở thành bản hợp đồng đầy đủ sau khi 6 chiếc tàu đầu tiên do các nhà đóng tàu Việt Nam tự đóng được chuyển giao cho Hải quân Việt Nam.
Theo báo Vzgliad, Nga đang lên kế hoạch mở rộng hợp tác quân sự với Việt Nam từ đầu tháng 3/2013.

Như vậy, Việt Nam đã thể hiện sự ưu tiên đối với việc sử dụng các cảng của mình cho việc qua lại và sửa chữa, bảo dưỡng tàu biển của Nga. Theo đó, thỏa thuận về vấn đề này giữa hai nước có thể sẽ được ký kết trong năm nay. Ngoài ra, Nga thực tế đang xây dựng hạm đội tàu ngầm cho Việt Nam.

"Trong năm nay, những nỗ lực chung của hai nước sẽ mở ra một trang mới trong lịch sử của Hải quân Việt Nam - đó là sự xuất hiện của hạm đội tàu ngầm". Hai bên thậm chí còn bàn về việc mở rộng đào tạo các chuyên gia cho Việt Nam trong các nhà trường quân đội của Nga.

Sau các cuộc đàm phán của Bộ trưởng Quốc phòng hai nước, thông tin Việt Nam sẽ tiếp tục mua vũ khí của Nga đã được đề cập.

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

>> Điểm khác biệt của Gepard 3.9 Việt Nam và Gepard Nga

Tàu chiến lớp Gepard đóng cho Hải quân Nga có nhiều điểm khác về hệ thống vũ khí cách bố trí so với Gepard 3.9 của Việt Nam.

>>Việt Nam sẽ có thêm 2 tàu Gepard 3.9

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Chiến hạm lớp Gepard (Project 11661) do các nhà thiết kế Nga nghiên cứu phát triển từ những năm 1990. Trước khi thực hiện hợp đồng đóng tàu Gepard cho Hải quân Nhân dân Việt Nam, từ năm 1993, nhà máy Zelenodolsk đã đóng 2 chiếc tàu trang bị cho Hải quân Nga. Trong ảnh là 2 tàu chiến Gepard (Project 11661K) mang tên Tatarstan (691) và Dagestan (693) thuộc biên chế Tiểu Hạm đội Caspian.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Nhìn chung, các chiến hạm Gepard của Hải quân Nga so với Việt Nam có kích thước tương đương nhau. Điểm khác biệt tập trung chủ yếu về hệ thống vũ khí, cách bố trí vũ khí.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Đằng sau tháp pháo AK-176, tàu Gepard mang tên Tatarstan (Nga) được trang bị hệ thống pháo phòng không AK-630. Trong khi đó, tàu Gepard Việt Nam (ảnh nhỏ, góc trái) trang bị hệ thống pháo – tên lửa phòng không kết hợp Palma-SU.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Trong khi hệ thống tên lửa hành trình chống tàu cận âm Kh-35 của tàu Gepard Việt Nam bố trí chéo ở giữa thân tàu (ảnh nhỏ, góc trái). Về phía tàu Gepard Tatarstan (Nga) thì lại đặt dọc ở hai bên thân tàu. Ngoài ra, hệ thống phòng không chính của Gepard Nga không sử dụng Palma-SU mà dùng tên lửa phòng không tầm thấp Osa-M kiểu cũ.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Chiếc tàu Gepard Project 11661K thứ hai của Nga mang tên Dagestan (693) thậm chí còn khác nhiều hơn so với tàu Việt Nam.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Ở đằng sau tháp pháo của Dagestan không có hệ thống pháo hay tên lửa phòng không so với tàu Việt Nam (ảnh nhỏ, góc trái).

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Thay vào đó, hệ thống pháo – tên lửa phòng không kết hợp Palma-SU được đưa ra phía sau boong tàu (dấu đỏ).

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Hệ thống tên lửa hành trình chống tàu của Gepard Dagestan cũng không dùng loại tên lửa Kh-35 Uran mà trang bị tên lửa chống tàu siêu thanh Kaliber NK (8 quả) đặt trong hệ thống ống phóng thẳng đứng (trong ảnh).

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Hệ thống ống phóng thẳng đứng (VLS) đặt ở ngay phía sau tháp pháo AK176, trước tháp chỉ huy.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Hệ thống tên lửa chống tàu siêu thanh Kaliber NK đạt tầm bắn tới 300km, xa hơn nhiều so với tên lửa Uran. Đồng thời,với tốc độ vượt âm, Kaliber NK sẽ khiến đối thủ khó có đủ thời gian phản ứng đối phó và dễ dàng bị tiêu diệt. Trong ảnh là tàu Dagestan phóng tên lửa chống tàu Kaliber NK trong một cuộc tập trận.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Tàu Gepard hoàn toàn có khả năng mang tên lửa chống tàu phóng theo phương thẳng đứng mạnh mẽ hơn. Như vậy, ta có quyền hy vọng 2 chiếc tàu Gepard đang đóng thêm cho Việt Nam sẽ trang bị loại tên lửa như vậy.

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Hai tàu Tatarstan và Dagestan đều không thiết kế sân đáp trực thăng ở đuôi tàu, trong khi tàu Gepard Việt Nam có sân đáp (ảnh nhỏ, góc trái).

Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Hệ thống điều khiển của tàu Gepard Nga và Việt Nam chắc chắn có sự khác biệt. Nhưng điều này là khá khó để phân biệt đích xác.

Clip giới thiệu về Tatarstan (691) và Dagestan (693) :


Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

>> Kế hoạch hiện đại hóa Hải quân Việt Nam (Kỳ 1)

Chuyên gia về hải quân người Nga Yu.V. Vedernikov phân tích về vấn đề hiện đại hóa Hải quân Việt Nam hiện nay.

(*)Yu.V. Vedernikov : chuyên gia về hải quân, người đã từng viết một số cuốn sách về hải quân Trung Quốc đương đại, để quý độc giả tham khảo. Bài viết được đăng trên trang của Viện Hàn lâm Khoa học Quân sự Liên bang Nga.


>> Viễn cảnh mới cho Không quân Việt Nam

>> Cách Việt Nam giữ Trường Sa ?


Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com

Phần 1: Tham vọng và trở ngại

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, nằm ở bờ đông bán đảo Đông Dương và có dân số 90,5 triệu người. Theo số liệu năm 2011, GDP chính thức của Việt Nam là 122,7 tỷ USD, tăng 5,9% năm so với cùng kỳ năm trước. Ngân sách của Việt Nam bị thâm hụt với mức thu 32,8 tỷ USD và mức chi 35,7 tỷ USD. Nợ nhà nước chiếm 57,3% GDP, dự trữ vàng-ngoại tệ là 17,67 tỷ USD [ 1 ] Giữ vai trò đầu tàu của nền kinh tế là các vùng công nghiệp Hà Nội (ở phía bắc) và thành phố Hồ Chí Minh (ở phía nam).

Xuất khẩu các sản phẩm trong nước có vai trò chiến lược trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Năm 2011, khối lượng xuất khẩu là 95,32 tỷ USD, bằng 77,7% GDP. Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống là tài nguyên thiên nhiên, nông sản và hải sản, quần áo và giày dép, đồ điện tử gia dụng (và không phức tạp). Các quốc gia đối tác hàng đầu là Mỹ - 18%, Trung Quốc - 11% và Nhật Bản - 11%. Bên cạnh đó, nhập khẩu (năm 2011 là 97,83 tỷ USD) cho phép Việt Nam có được sản phẩm chế tạo máy, cấu kiện kim loại, thiết bị công nghiệp nhẹ. Các quốc gia cung cấp chính là: Trung Quốc - 22,0%, Hàn Quốc - 13,2%, Nhật Bản - 10,4%, Đài Loan - 8,6%, Thái Lan - 6,4% và Singapore - 6,4%.

Về mặt truyền thống, Việt Nam không được coi là cường quốc biển.

Tuy nhiên, theo số liệu của Review of Maritime Transport [ 2 ] tại thời điểm đầu năm 2011, Việt Nam có 1.451 tàu với tổng trọng tải [ 3 ] 3.704.000 GT, trong đó trọng tải của 104 tàu dầu là 933.000 GT, của 130 tàu chở hàng rời - 1.079.000 GT, của 949 tàu chở hàng khô - 1.367.000 GT, của 21 tàu chở container - 131.000 GT và của 42 tàu khác - 194.000 GT. So sánh những số liệu này, có thể kết luận rằng, hạm đội thương thuyền Việt Nam có các tàu tương đối nhỏ về kích thước, được dùng chủ yếu cho nhu cầu vận chuyển hàng hóa nội địa và khu vực [ 4 ]. Sách tra cứu “World Port Index” có đăng thông tin về 16 cảng và bến cảng của Việt Nam, trong đó lớn nhất là Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh nằm tương ứng ở miền bắc, miền trung và miền nam đất nước. Được biết [ 5 ], năm 2009, lượng container lưu chuyển của các cảng Việt Nam là 4.840.6000 TEU, còn năm 2010 là 5.454.500 TEU, tức là mức tăng trưởng hàng năm là 13,1%, trong khi chỉ số trung bình thế giới là 13,3%.

Về truyền thống, Việt Nam không được coi là cường quốc hải quân.

Và về mặt lịch sử, điều đó là có cơ sở. Thoát hẳn khỏi ách thực dân vào năm 1954, đất nước bị lôi cuốn vào hàng loạt cuộc chiến tranh, trong đó hải quân được dành cho vai trò hạng ba, thực tế là không quan trọng. Hạm đội được trang bị một số lượng nhỏ xuồng (tàu nhỏ) chiến đấu các loại hoạt động ven biển và trên sông. Việc bảo vệ từ hướng biển định kỳ do Hải quân Liên Xô đảm nhiệm, các tàu chiến, tàu ngầm Liên Xô bằng sự hiện diện của mình đã kiềm chế cuộc xâm lược tiềm tàng của Mỹ. Khi các hiện tượng khủng hoảng gia tăng ở Liên Xô, sự yểm trợ bằng sức mạnh quân sự này dần chấm dứt.

Những biển đổi địa-chính trị của thế giới vào đầu thập niên 1990 và cuộc cải cách kinh tế-xã hội theo hướng tự do của Việt Nam vào nửa đầu thập kỷ này đã không đưa vào nghị trình vấn đề hiện đại hóa tận gốc lực lượng hải quân quốc gia. Hạm đội vẫn chỉ là hạm đội ven bờ với nòng cốt là mấy tàu tuần tra và đổ bộ, tàu quét lôi và xuồng tên lửa ở trình độ kỹ thuật những năm 1960 do Liên Xô cung cấp.

Trong khi đó, sự tái cấu trúc chính trị không gian thế giới đã làm gay gắt vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Nói đúng ra, vấn đề phi quân sự hóa vùng biển này đã xuất hiện khá lâu, trong những năm 1950-1960, với sự xuất hiện của các quốc gia có chủ quyền mới ở Đông Nam Á. Trong bối cảnh một thế giới lưỡng cực, nó mang tính khu vực hẹp và “chậm chạp”, và thực tế đã được giải quyết bởi các nước tranh chấp theo nguyên tắc “fait accompli” (sự đã rồi), nghĩa là xác lập chủ quyền bằng sức mạnh khi sử dụng lực lượng hải quân có năng lực như luận cứ chủ yếu.

Thời đại mới đã tạo ra những điều chỉnh đối với vấn đề này khi làm cho “tranh chấp tài nguyên” do trữ lượng tiềm năng hydrocarbon lớn ở khu vực quần đảo Trường Sa [ 6 ] mà ngoài Việt Nam, còn có Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Brunei và Philippines tuyên bố chủ quyền trở nên bức thiết. Lợi ích của Việt Nam ở vùng biển này là rất lớn. Cần lưu ý là Việt Nam đang nắm giữ 21 trong 44 đảo nhỏ và rạn đá ngầm lớn nhất của quần đảo này.


Tin Quân Sự - http://nghiadx.blogspot.com
Hai chiến hạm uy lực nhất HQ-011 Đinh Tiên Hoàng và HQ-012 Lý Thái Tổ của Hải quân Việt Nam hiện nay

Một xu hướng mới khác là “sự xâm nhập” vào khu vực này của Đông Nam Á của “các quốc gia ngoài khu vực”. Có liên minh quân sự-chính trị với Đài Loan và Nhật Bản, cũng như sự hiện diện quân sự ở Philippines, Mỹ thường xuyên duy trì tại khu vực này một lực lượng tàu chiến [ 7 ]. Theo đuổi những mục tiêu đối ngoại của mình, năm 2011, Ấn Độ đã bắt đầu hợp tác thăm dò ở thềm lục địa Việt Nam, còn sau đó thì tuyên bố ý định thiết lập sự hiện diện hải quân thường xuyên ở vùng biển này. Tất cả những điều đó đi kèm với sự mở rộng quan hệ ngoại giao và các cuộc tập trận chung hải quân truyền thống [ 8 ], như những thành tố của ngoại giao quân sự. Tuy nhiên, sự thiếu văng, dù là một hạm đội cho dù không lớn nhưng có năng lực hoạt động đang đặt Việt Nam vào thế phụ thuộc vào “ý muốn” của các quốc gia này, làm cho họ phải “trông chừng cộng đồng quốc tế” trong các hành động [ 9 ].

Tất cả những điều đó cộng lại đã làm cho vấn đề hiện đại hóa Hải quân Việt Nam trở nên cấp thiết.

Hải quân Việt Nam đương đại là một quân chủng độc lập của lực lượng vũ trang, về tổ chức chia thành 4 vùng hải quân, 9 lữ đoàn tàu chiến và tàu bổ trợ, 1 lữ đoàn đặc công, 2 lữ đoàn hải quân đánh bộ và 2 lữ đoàn phòng thủ bờ biển. Quân số là 33.800 người [ 10 ].

Theo số liệu Jane’s năm 2008, trong biên chế Hải quân Việt Nam có 2 tàu ngầm mini do Bắc Triều Tiên đóng, 5 tàu tuần tra cũ lớp Projekt 159, 4 corvette tên lửa lớp 1241RE trang bị tên lửa chống hạm P-15, 2 corvette tên lửa lớp Projekt BSP-500 và 2 corvette tên lửa lớp Projekt 1241.8 trang bị tên lửa chống hạm Kh-35, 4 corvette tuần tra lớp Projekt 1041 và các tàu chiến nhỏ cũ gồm: 8 tàu tên lửa lớp Projekt 205 và 2 tàu phóng lôi lớp Projekt 206М và 206Т. Các tàu quét lôi gồm 4 tàu quét lôi căn cứ và 2 tàu quét lôi ven bờ, lực lượng tàu đổ bộ gồm 3 tàu đổ bộ hãng trung do Liên Xô đóng và 3 tàu đổ bộ tăng do Mỹ đóng. Trong biên chế hạm đội còn có một số lượng lớn tàu nhỏ ven bờ và tàu sông các loại.

Báo chí công khai không nêu thông tin về chiến lược hải quân của Việt Nam. Nhưng dựa vào suy nghĩ lành mạnh, chúng tôi giả định các nhiệm vụ sau đây đang đặt ra cho Hải quân Việt Nam (không xác định rõ mức độ ưu tiên của chúng):

- Bảo vệ lợi ích quốc gia ở Biển Đông, bảo đảm sức mạnh quân sự cho các lực lượng đồn trú ở quần đảo Trường Sa, bảo vệ hoạt động giao thông hàng hải, đánh cá và thăm dò trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế, đấu tranh chống cướp biển, buôn lậu ma túy và các mối đe dọa tương tự;

- Kiềm chế một cuộc xâm lược tiềm tàng từ hướng biển một cách độc lập hoặc phối hợp với các quân binh chủng khác của quân đội, khi có liên minh với các nước ngoài hoặc không có sự liên minh đó;

- Tác chiến trên biển độc lập hay phối hợp với Không quân, chi viện cho Lục quân trong phòng thủ đất nước trên các hướng ven biển.

Sự đổi mới thực tế đội tàu chiến của Hải quân Việt Nam bắt đầu vào nửa cuối thập niên 1990 bằng việc mua sắm 4 corvette tên lửa Projekt 1241 của Nga. Về thực chất, có thể nói đến sự đổi mới kỹ thuật: trong biên chế hạm đội Việt Nam đã xuất hiện các tàu tên lửa mới, với dự trữ kỹ thuật và tiềm năng hiện đại hóa lớn, nhưng được trang bị các tên lửa hành trình cũ P-15 (SS-N-2D Styx) [ 11 ].

Trong những năm sau đó, Việt Nam đã mua sắm các corvette tên lửa tương tự, nhưng đã được trang bị tên lửa chống hạm hiện đại Kh-35 Uran-E (SS-N-25). Điều đó tự nó tạo ra xu hướng đổi mới chất lượng mức chiến dịch-chiến thuật Hải quân Việt Nam. Theo số liệu của Jane’s 2008, trong biên chế hạm đội Việt Nam hiện có và sẽ có tổng cộng 12 corvette tên lửa với tổng tiềm lực chiến đấu là 176 tên lửa chống hạm Kh-35. Được biết, năm 2004-2008, Việt Nam đã mua sắm 120 tên lửa này, còn tháng 10/2010 đã ký hiệp định Nga-Việt về việc phát triển tên lửa Uran-EV thích ứng cho nhu cầu của hạm đội Việt Nam [ 12 ].

Không còn nghi ngờ, điểm yếu của các tàu này là tiềm lực phòng không yếu, với sự hiện diện của 2 ụ pháo hiệu quả thấp АК-630 trên mỗi tàu. Tuy vậy, nhược điểm này đã được tính đến từ thời Liên Xô: năm 1986, để thử nghiệm, trên một tàu cùng lớp đã lắp hệ thống tên lửa-pháo phòng không Kortik, cũng như trù tính khả năng cải tạo nhanh để lắp các loại vũ khí trang bị mới [ 13 ].

Việc tiếp nhận 2 frigate lớp Gepard (Projekt 11661E) vào năm 2011 là sự tăng cường chất lượng cho hạm đội Việt Nam. Với lượng giãn nước toàn phần 2.100 tấn, frigate lớp này có cự ly hành trình 3.500 hải lý (ở tốc độ 14 hải lý/h), thời gian hoạt động độc lập đế 20 ngày đêm, được trang bị 8 tên lửa chống hạm Kh-35, 1 hệ thống tên lửa-pháo phòng không Kortik và 2 ụ pháo АК-630, vũ khí chống ngầm và có một sân đỗ để triển khai tạm thời 1 trực thăng.

Các tàu Gepard có tiềm năng hiện đại hóa lớn. Được biết, các tàu lớp này của Hải quân Nga đã tiến hành thành công các đợt bắn thử tên lửa chống hạm 3М54 Club-N, hãng thiết kế đã xem xét khả năng lắp ụ pháo 100 mm tối tân nhất АК-190 cho các tàu này [ 14 ]. Chúng tôi cho rằng, hiện tại, các nước ở khu vực Biển Đông không có các tàu cùng loại có khả năng chiến đấu sánh với các tàu chiến Gepard của Việt Nam [ 15 ].

Biên chế lực lượng tàu tuần tra dự định bổ sung bằng các tàu corvette lớp Projekt 1041.2 Svetlyak mà trong tương lai, số lượng sẽ tăng lên đến 10 chiếc. Các tàu chiến này của Việt Nam là biến thể chống ngầm được phát triển từ lớp tàu tên lửa cỡ nhỏ lớp Projekt 1241 và khác với chúng ở chỗ được trang bị hệ thống động lực chính là các động cơ diesel. Kinh nghiệm của Hải quân Liên Xô đã cho thấy rằng, để thực hiện các nhiệm vụ được giao, các tàu Svetlyak là đắt đỏ cả khi đóng lẫn trong khai thác [ 16 ]. Việc mua sắm các tàu có tiềm năng săn-chống ngầm trực tiếp và thực tế là không có vũ khí tấn công (chống hạm) này, theo chúng tôi, là sự lãng phí tiền bạc [ 17 ].

Ngoài ra, báo chí cũng đưa tin về khả năng Việt Nam mua của Hà Lan 4 frigae lớp SIGMA. Ngoài ra, Ấn Độ cũng đã bày tỏ sẵn sàng giúp Việt Nam tăng cường sức mạnh hải quân bằng phương thức đóng tàu và đào tạo thủy binh [ 18 ]. Tuy nhiên, hiện tại (tháng 12/2012), việc này chưa được xác nhận [ 19 ].


(Bài viết được tham khảo từ nguồn Vietnamdefence)
Copyright 2012 Tin Tức Quân Sự - Blog tin tức Quân Sự Việt Nam
 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang