Tin Quân Sự - Blog tin tức Quân sự Việt Nam: Đại Tây Dương

Paracel Islands & Spratly Islands Belong to Viet Nam !

Quần Đảo Hoàng Sa - Quần Đảo Trường Sa Thuộc Về Việt Nam !

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại Tây Dương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại Tây Dương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

>> Nghệ thuật quân sự hải quân (kỳ 6)



"Trận hải chiến vĩ đại" bị thay thế bằng những cuộc săn tìm trên biển với hiệu quả sóng còn cao hơn, là nét nổi bật của tư duy tác chiến hải quân mới.

Tư duy "trận hải chiến vĩ đại" lui dần vào lịch sử

Trước thế kỷ 20 các hoạt động trên biển hầu như chỉ là nhưng hoạt động tác chiến cấp chiến thuật, các nước phương Tây, những nước thực dân với đường lối chính trị "ngoại giao pháo hạm" và nguyên tắc tác chiến "trận hải chiến vĩ đại" đã sử dụng những hạm tàu viễn dương đánh chiếm các nước nghèo, lạc hậu thuộc chế độ phong kiến với mục đích mở rộng thuộc địa. Hầu hết các cuộc chiến đấu diễn ra không cân sức và lực lượng hải quân mang tính yểm trợ, vận tải và đổ bộ.

Vào những năm 1904 – 1905 trong cuộc chiến tranh Nga Nhật các trận hải chiến giữa Hạm đội Thái bình dương và Hạm đội hải quân của Nhật đã xuất hiện những yếu tố của hải chiến hiện đại.

Hải quân Nhật phát triển vượt bậc với các thiết giáp hạm, các tàu tuần dương trọng tải lớn và pháo hạm hiện đại hơn, các khu trục hạm bọc giáp hạng nhẹ với khả năng tấn công nhanh đã làm chủ chiến trường trên mặt biển.

Các chiến dịch trong chiến tranh Nga - Nhật dù thời gian kéo dài hơn, nhưng vẫn có những nét tương đồng của các trận hải chiến lớn thời kỳ tàu buồm, với sự thất bại của hải quân Nga, do đánh giá sai lầm sức mạnh hỏa lực pháo binh Nhật bản và khả năng tấn công trực diện với tốc độ cao của các tàu khu trục hạng nhẹ, là bước phát triển cao nhất của các Thiết giáp hạm, pháo hạm và các tàu khu trục ham.

Lý thuyết hải chiến được xây dựng trên cơ sở: Để tiêu diệt một hạm đội cần có một hạm đội khác mạnh hơn, có nhiều pháo hạng nặng hơn và nhiều tàu thiết giáp tốc độ cao hơn.



Sơ đồ hải chiến Nga - Nhật.

Các giai đoạn của cuộc chiến thế giới 1 cũng cho thấy những thương vong của các thiết giáp hạm bởi các vũ khí năng động và tiết kiệm hơn và cũng là sự phát triển mạnh mẽ của tàu ngầm.

Trong tháng 9/1914, mối đe dọa thực sự từ chiến dịch săn tàu của đội tàu ngầm U-boat Đức đến các tàu chiến chủ lực đã được chứng minh bởi các cuộc tấn công thành công vào các tuần dương hạm của Anh, chiếc tàu ngầm U-9 Đức trong 1 trận đánh chìm 3 tàu tuần dương bọc thép của Anh chỉ trong vòng chưa đầy 1 giờ.

Thủy lôi tiếp tục chứng minh là một mối đe dọa thường trực khi chỉ 1 tháng sau đó, "siêu thiết giáp hạm" lớp Dreadnought Audacious của Anh đã đâm vào một quả thủy lôi và chìm.

Đến cuối những năm 1918 - 1920, chiến lược và chiến thuật của Anh ở Biển Bắc phải thay đổi để làm giảm sự khả năng tiêu diệt của tàu U-boat.



Sơ đồ trận hải chiến Jutland.


Tại Jutland là cuộc đụng độ lớn duy nhất của các hạm đội thiết giáp hạm trong lịch sử, kế hoạch của Đức trong trận chiến là dựa vào đội tàu U-boat để tung ra các cuộc tấn công vào hạm đội Anh, và việc hạm đội thiết giáp hạm Đức thoát khỏi hỏa lực mạnh mẽ hơn của tàu Anh là bởi các tàu tuần dương và tàu khu trục của Đức có thể áp vào gần các thiết giáp hạm của Anh, làm chúng (các thiết giáp hạm của Anh) phải di chuyển để tránh sự đe dọa của các cuộc tấn công bằng ngư lôi.

Hơn nữa những thiếu sót để cho các tàu ngầm tấn công các tuần dương hạm làm cho các tàu tuần dương bị thương vong lớn đã dẫn đến những hoang tưởng ngày càng tăng trong Hải quân Hoàng gia Anh về chỗ yếu của thiết giáp hạm.

Trận hải chiến Jutland vào cuối tháng 3/1916 giữa hạm đội của Anh và của Đức đã kết thúc tư duy chiến lược "trận đánh vĩ đại trên biển".

Trong trận hải chiến này, người Anh đã mất 14 tàu với trọng tải là 11.3570 tấn, 6.097 thủy thủ hy sinh, 510 bị thương. Người Đức mất 11 chiến hạm với trọng tải là 60.250 tấn, 2.551 thủy thủ hy sinh, 507 người bị thương.

Nhưng trận chiến lớn nhất này không kết thúc bằng sự hủy diệt của Hải quân Anh, và người Đức cũng không chiếm được vị trí thống trị trên biển. Tư duy nghệ thuật chiến dịch kết thúc bằng một trận hải chiến vĩ đại đã mất hoàn toàn giá trị hiện thực của nó.

Các cuộc săn tìm trên biển

Sau đại chiến thế giới lần thứ 1, nghệ thuật quân sự phát triển mạnh với sự phát triển của xe tăng, xe thiết giáp, pháo nòng dài, tư duy chiến dịch có chiều sâu vào các chiến dịch mà lực lượng chủ lực giải quyết chiến trường là lực lượng bộ binh, lực lượng hải quân đóng vai trò yểm trợ.

Các chiến dịch hải chiến chủ yếu có mục đích bảo vệ đường vận tải biển, tấn công tàu ngầm và chống ngầm, đồng thời phát triển mạnh binh chủng không quân hải quân.

Nghệ thuật chiến dịch tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu, bảo vệ các căn cứ kinh tế, quân sự ven biển, tấn công các tuyến đường vận tải bằng tàu ngầm bảo vệ đường vận tải và chống ngầm, tác chiến không-hải bằng lực lượng không quân và không quân hải quân với sự tham gia của các tàu sân bay.

Khi chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra, trên các vùng nước của các cường quốc tham gia chiến tranh, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt với các chiến dịch săn tìm các đoàn tàu vận tải của đối phương, tấn công bằng tàu ngầm, các hạm đội hải chiến chủ yếu bằng tàu sân bay và không quân hải quân tấn công căn cứ hải quân của đối phương bằng lực lượng đổ bộ hải quân với sự yểm trợ hỏa lực mạnh mẽ của hải quân.



Sơ đồ trận hải chiến Matapan.


Một trong những trận đánh làm thay đổi tư duy chiến dịch của hải chiến, bắt đầu thời kỳ của khoa học công nghệ hiện đại là trận đánh ở mũi Matapan ngày 27 – 29/5/1941 giữa Hải quân Hoàng gia Anh và hải quân Italy.

Sau một thời gian dài tiến hành chiến dịch săn tìm, cuối cùng hạm đội Anh đã phát hiện một hải đoàn của hải quân Italy với kỳ hạm Vittorio Veneto, 6 tàu thiết giáp hạm hạng nặng, 2 tàu tuần dương hạng nhẹ và 13 tàu khu trục.

Không quân hải quân tàu sân bay Formideybl của Anh đã đánh thiệt hại nặng kỳ hạm và thiết giáp hạm của Italy. Cuộc chiến đấu tiếp tục diễn ra vào ban đêm, chiến hạm của Anh sử dụng radar đã nhanh chóng phát hiện ra tàu chiến của Italy và nhấn chìm 3 tàu tuần dương hạng nặng, 2 tàu khu trục.

Đặc biệt đáng kể: Hải đoàn của người Anh không có tổn thất đáng kể.



Tàu ngầm U Boat của Đức.

Là nước có nền công nghiệp phát triển mạnh, Đức đã phát triển một tư duy chiến dịch mới, đi kèm với sự phát triển của công nghệ đóng tàu ngầm U-Boat tải trọng 200 tấn, "chiến thuật bầy sói", người Đức đã tung hoành trên Đại Tây dương, tấn công các tuyến đường vận tải, các hạm tàu của các nước Đồng minh, vũ khí tấn công chủ yếu là ngư lôi, thứ yếu là pháo hạm hạng nhẹ.

Chiến thuật bầy sói đã gây rất nhiều tổn thất cho các đoàn quân sự và đoàn tàu thương mại trên biển. Sự phát triển mạnh mẽ của tàu ngầm, ngư lôi, thủy lôi và máy bay ném bom chìm, phóng ngư lôi đã xuất hiện một thế hệ các tàu chiến mới, thay thế cho các tuần dương hạm hạng nặng và thiết giáp hạm, đó là những tàu yểm trợ và đánh chặn bảo vệ tiền duyên của các đoàn tàu thương mại và vận tải, tàu khu trục phóng lôi và săn ngầm.



Hoạt động của lực lượng hải quân trên vùng biển Đại Tây Dương năm 1942.


Hàng trăm chiếc tàu khu trục của Anh, Mỹ với các thiết bị hiện đại được triển khai trên Đại tây dương và Địa trung hải với mục tiêu săn ngầm, đánh tiêu diệt các tàu ngầm Đức, với chiến dịch truy quét tàu ngầm, tập trung lực lượng từ nhiều hướng bao vây và tiêu diệt, quân đội Đồng Minh đã đánh chim kỳ hạm Bismarck và bắt đầu sự thảm bại của hải quân Đức.

Sự phát triển mạnh mẽ của các thiết bị radar, sonar, ngư lôi và không quân hải quân đã tạo ưu thế trên mặt nước Địa Trung hải, Hải quân Đức đã tổn thất nặng nề trong chiến dịch sử dụng tàu ngầm thống trị mặt biển, người Đức cố gắng kéo lại ưu thế bằng giải pháp thiết kế tàu ngầm mới loại Elektroboat với khả năng lặn lâu hơn, tấn công ngư lôi từ dưới mặt nước, nhưng thời gian không cho phép, khi quân Đồng minh đổ bộ lên Normandy từ 6 đến tháng 8/1944 đó cũng là trận hải chiến cuối cùng của tàu ngầm Đức.



Vị trí các tàu ngầm U boat bị đánh chìm.


Nhìn toàn cuộc, 1.155 tàu ngầm Đức được tung vào cuộc chiến, trong đó có 725 chiếc bị đánh chìm.

Trong 6 năm, hơn 35.000 thủy thủ Đức lao vào cuộc chiến sống còn trên biển và 28.744 người không bao giờ trở về - tỷ lệ thiệt mạng 82% được xem là cao nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại.



Hoạt động tác chiến của lực lượng hải quân trên vùng biển Đại Tây Dương các nước năm 1944-1945.


Đặc điểm của các chiến dịch do các lực lượng hải quân tiến hành được thể hiện rõ nét nhất trên Chiến trường Đông Nam Á, và nổi bật là cuộc chiến tranh trên biển Philippines 1941-1945 giữa lực lượng Hải quân Nhật bản và lực lượng Đồng Minh.

Hải quân Nhật dưới quyền chỉ huy của đô đốc hải quân Isoroku Yamamoto nhận định, thời kỳ của những chiếc thiết giáp hạm và pháo hạm đã kết thúc, phương án để đánh bại một hạm đội thiết giáp hạm cần một hạm đội thiết giáp hạm lớn hơn, có vỏ thép dầy hơn và pháo nặng hơn đã không còn thực tế nữa.

Đô đốc Yamamoto chọn phương án sử dụng máy bay chiến đấu với các loại ngư lôi tấn công dưới ngấn nước, không quân hải quân và tàu sân bay là lực lượng tác chiến chủ lực của hải quân Nhật bản, do đó, lực lượng không quân hải quân và tàu sân bay của Nhật được phát triển mạnh mẽ, khả năng hải hành viễn dương rất cao và có thể hiệp đồng tác chiến quân binh chủng chặt chẽ.

Lực lượng viễn chinh chủ yếu của nhật bản dưa trên sức mạnh của những hạm đội trong đó, lực lượng tàu sân bay cảm tử kamikaze đóng vai trò chủ lực. Tuy nhiên, người Nhật luôn đánh giá cao lý luận thống trị trên đại dương bằng một trận hải chiến vĩ đại, tiêu diệt phần lớn lực lượng hải quân đối phương bằng những đòn tấn công liên tiếp, quyết liệt của không quân, sau đó mở rộng không gian tác chiến bằng những đòn đánh của lực lượng thiết giáp hạm, tuần dương hạm và tàu ngầm với vũ khí chủ đạo là ngư lôi – pháo hạm với sự yểm trợ của máy bay ném bom, kết thúc chiến dịch bằng các cuộc đổ bộ từ biển đánh sâu vào đất liền, chiếm đóng và tiêu diệt.

Để khẳng định cho lý luận quân sự này, Nhật Bản đã đưa lực lượng hải quân viễn dương hùng mạnh vào đại chiến thế giới lần thứ 2. Mở màn bằng trận tấn công Chân Trâu cảng, Hải quân Nhật đã đánh tiêu diệt hại nặng Hạm đội Thái bình dương của Mỹ do đô đốc Husband Kimmel, tư lệnh hạm đội (từ tháng 2-1941).


Cuộc xâm lược của Đế quốc Nhật Bản.


Sau cuộc tấn công Chân Trâu cảng, các chiến dịch hải chiến trong khu vực Đông Nam Á đã mở rộng, Hải quân Nhật bản với biên chế đầy đủ tàu sân bay, thiết giáp hạm, tuần dương hạm, các tàu khu trục, tàu ngầm và không quân hải quân đã vượt qua Thái Bình Dương và tiến sâu vào Ấn Độ dương, tiêu diệt 2 hạm tàu mạnh nhất của nước Anh Prince of Wales và Repulse đuổi hạm đội của Hoàng gia Anh tháo lui khỏi biển Ấn độ. Quân đội Nhật đã đánh chiếm toàn bộ Đông Nam Á. Nhưng cũng từ đó, lực lượng hải quân Nhật bản đã bộc lộ những điểm yếu dẫn đến sự thảm bại sau này.

Điểm thứ nhất: Quân đội Nhật đã quá tin tưởng vào sức mạnh hải quân, do đó, sự gắn kết chiến dịch với các lực lượng lục quân Nhật Bản không chặt chẽ. Đặc biệt là với lực lượng lục quân.

Điểm thứ hai. Quân đội Nhật được trang bị vũ khí hiện đại, nhưng hệ thống thông tin trinh sát và quản lý chiến trường rất yếu. Đó là khả năng thông tin liên lạc của các hải đoàn rất kém, người Nhật không được trang bị radar, một thiết bị quân sự hiện đại, song hành cùng với điều đó, nền công nghiệp Nhật bản, đặc biệt là cụm công nghiệp tàu biển và máy bay chiến đấu, đã không đáp ứng được yêu cầu trên chiến trường.

Những hạn chế trên đã trở thành nguyên nhân chính gây ra thất bại của Hải quân Nhật bản. Sau chiến dịch tấn công Midway thất bại, lực lượng Hải quân Nhật đã rơi vào tính thế chiến đấu mà không có sự hộ trợ mạnh mẽ của nền công nghiệp quốc phòng, những tổn thất nặng nề trong chiến tranh đã không được bù đắp, và loạt chiến dịch liên tiếp trên chiến trường Philippines thất bại.

Hải quân Nhật bị tổn thất nặng nề bởi các đòn tấn công của máy bay cường kích, tàu ngầm, trận chiến vịnh Leyte đã chấm dứt mọi hoạt động của hạm đội Nhật bản với tư cách là lực lượng hải quân hùng mạnh trên biển Thái Bình dương. Nhật bản bị đánh tiêu diệt trên mặt trận Mãn Châu, bị hủy diệt bởi 2 quả bom nguyên tử, và chiến dịch Okinawa đã buộc quân đội Nhật phải đầu hàng.



Sơ đồ trận chiến Midway.




Trận chiến vịnh Leyte đánh quỵ tiềm năng cuối cùng của Hải quân Nhật Bản


Sau những thất bại đầu chiến tranh, lực lượng Đồng Minh đã học tập kinh nghiệm tác chiến chiến dịch của Nhật bản với phương pháp sử dụng không quân kải quân và tàu ngầm tác chiến độc lập.

Mỹ tập trung phát triển máy bay tác chiến trên tàu sân bay, Anh tăng cường sức chịu đựng của thiết giáp hạm trước sức tấn công của không quân hải quân, trong các chiến dịch hải chiến, với sức mạnh vượt gấp nhiều lần của nền công nghiệp quốc phòng, với khả năng có thể trang bị cho Hải quân những vũ khí và thiết bị quân sự tối tân nhất.

Lực lượng Đồng minh đã có ưu thế cả trên không và trên biển. Sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia tác chiến, lấy không quân hải quân, với các pháo đài bay B-17 làm chủ đạo, các máy bay cường kích mang ngư lôi và bom đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng tàu ngầm, lực lượng bộ binh cơ giới.

Vượt trội hơn Nhật bản về công nghệ sản xuất máy bay chiến đấu, máy bay trinh sát và hệ thống radar, Mỹ đã tăng cường sức mạnh tối đa của không quân hải quân. Quân đội Đồng minh đã tiến hành các chiến dịch tuy quét lực lượng hải quân Nhật bản, tập trung máy bay tấn công với số lượng lớn nhằm tiêu diệt các tàu sân bay của lực lượng hải quân Nhật bản.

Đầu năm 1945, hầu hết các hạm đội của Nhật bản đều nằm sâu dưới đáy biến, Mỹ đồng thời dùng lực lượng bộ binh, không quân đánh quỵ tiềm năng chiến tranh của Nhật. Từ đó triển khai những chiến dịch tấn công đổ bộ lên đảo Okinawa, Nhật hoàng đọc tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện.

[BDV news]


Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2011

>> 'Đột nhập' căn cứ Không quân Hải quân Nga (kỳ 1)



[BDV news] Trung đoàn Không quân Hải quân tiêm kích số 279 thuộc Hạm đội Bắc Hải còn được biết đến với cái tên “Người hùng của Hạm đội Bắc Hải”.

Đơn vị này được thành lập ngày 15/09/1973 tại Sân bay Saki, thành phố Crimea (Ukraine). Đến năm 1976, Trung đoàn được chuyển về sân bay Severomorsk-3.

Trong hơn 30 năm phục vụ, Trung đoàn đã hai lần được tặng thưởng danh hiệu anh hùng bảo vệ nước Nga.

Trung đoàn 279 từng tham gia các cuộc tập trận như "Phương Tây-81", "Shield-82", hoàn thành 14 nhiệm vụ quân sự, quan trọng nhất đó là nhiệm vụ ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải trên tàu sân bay "Đô đốc Kuznetsov" vào các năm 1990, năm 2004-2005.



Phù hiệu của Trung đoàn Không quân Hải quân tiêm kích số 279 thuộc Hạm đội Bắc Hải.


Các phi công của đơn vị được công nhận là có khả năng thực hiện các cuộc tấn công mục tiêu trên không ở tầm ngắn rất tốt. Trong các tình huống khó khăn và nguy hiểm nhất, các phi công thuộc Trung đoàn 279 đều làm chủ được tình hình.

Tuy nhiên, để đạt được những thành tích trong suốt những năm qua, đã có 11 phi công của trung đoàn hy sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trong đó, có cả người chỉ huy đầu tiên của Trung đoàn, Đại tá Teoctist Matkovsky.

Đại tá Teoctist Matkovsky là phi công trong số những phi công tài giỏi thời Liên Xô, được đánh giá là một người có kinh nghiệm chiến đấu và điều khiển máy bay. Ngày 15/04/1977, trong khi điều khiển máy bay MiG-21U, một sự cố kỹ thuật xảy ra khiến máy bay gặp nạn, Đại tá Teoctist Matkovsky hy sinh. Ngay sau đó, ông được phong là Anh hùng Liên Xô. Hiện tại, chỉ huy Trung đoàn là Đại tá Đại tá Igor Matkovsky, ông là con trai của Anh hùng Teoctist Matkovsky (người chỉ huy đầu tiên của Trung đoàn). Vào tháng 5/2010, ông được Tổng thống Nga ký nghị định sắc phong ông là Anh hùng Liên bang Nga.
Trang bị chính của Trung đoàn 279 là máy bay tiêm kích Su-33 và máy bay huấn luyện phi công hạ cánh trên boong tàu sân bay Admiral Kuznetsov Su-25UTG. Ngoài ra, Trung đoàn còn được trang bị máy bay chiến đấu Su-27UB, Yak-38 và Yak-38U.

Phần lớn số máy bay này được đưa vào biên chế từ giai đoạn 1993 – 1998. Theo dự kiến, đến năm 2012 Trung đoàn sẽ tiếp nhận máy bay tiêm kích-ném bom mới Mig-29K.

Máy bay chiến đấu Su-33
Su-33 là máy bay tiêm kích đa năng được biên chế cho các lực lượng Không quân và Hải quân Nga, trong đó Trung đoàn không quân hải quân tiêm kích số 279 thuộc Hạm đội Bắc Hải là đơn vị đầu tiên được biên chế loại máy bay này.

Đây là loại máy bay tấn công hiện đại và là phương tiện chiến đấu chủ lực của quân đội Nga.


Máy bay tiêm kích Su-33 trang bị cho Trung đoàn 279 thuộc Hạm đội Bắc Hải.


Đầu năm 2000, Hạm đội Bắc Hải của Nga được biên chế 36 máy bay Su-33 trên tàu "Đô đốc Kuznetsov".

Hiện nay, để giải quyết các vấn đề trên không Su-33 có thể được coi là máy bay tiêm kích tốt nhất thế giới dựa trên những tính năng nổi trội.

Su-33 được đánh giá có khả năng tấn công tốt hơn máy bay tiêm kích F/A-18C/D trên tàu sân bay của Hải quân Mỹ. Máy bay được trang bị radar hiện đại, tên lửa không-đối-không tầm xa AIM-54 Phoenix.

Việc nâng cao tính năng và hiện đại hoá máy bay chiến đấu đa năng Su-33 được coi là 1 trong 5 ưu tiên hàng đầu trong việc phát triển Lực lượng Không quân Hải quân Nga trong những năm tới.

Máy bay chiến đấu Su-27UB
Su-27UB là biến thể cải tiến của máy bay chiến đấu siêu âm Su-27. Máy bay do hãng Sukhoi nghiên cứu và chế tạo.

Su-27UB thực hiện chuyến bay đầu tiên vào năm 1985. Từ năm 1986-1998 Bộ quốc phòng Nga đã đặt hàng chế tạo hơn 120 máy bay biên chế cho các lực lượng.

Đối với việc chế tạo máy bay xuất khẩu, hãng đã phát triển một biến thể chỉ dành cho xuất khẩu là Su-27UBK.

Ngày 13/9/1987, Su-27 đã chứng minh khả năng tuyệt vời của nó khi bắn hạ máy bay do thám P-3B Orion của Na Uy theo dõi hoạt động quân sự của các hạm đội Nga ở khu vực biển Barent.


Máy bay chiến đấu Su-27UB.


Su-27 có hệ thống kiểm soát vũ khí cũng như chuyển hướng bay khá phức tạp, và là máy bay thiết kế 2 chỗ ngồi, do đó máy bay này còn được dùng cho nhiệm vụ tạo bay và chiến đấu.

Sự khác biệt chính của Su-27 là việc tổ chức của buồng lái hai chỗ ngồi dọc. Máy bay có trọng lượng rỗng 17.500 kg, trọng lượng cất cánh tối đa lên tới 30.500 kg. Máy bay SU-27UB sử dụng hai động cơ phản lực AL-31F.

Vũ khí trên máy bay gồm pháo và tên lửa, súng máy GSH-301 30 mm với 150 viên đạn. Máy bay có thể trang bị 6 tên lửa không - đối - không tầm trung và tên lửa các loại như P-27ER1, R-27ET1, P-và R-27ETE 27ERE…

Máy bay Su-25UTG
Máy bay huấn luyện và chiến đấu Su-25UTG do hãng Sukhoi nghiên cứu và phát triển, nó là sản phẩm kế thừa của dự án phát triển máy bay Su-28 bị đình hoãn.

Năm 1988, máy bay bay thử nghiệm lần đầu tiên, đây là máy bay huấn luyện hiện đại và hiệu quả nhất của Nga.

Năm 1990 máy bay được trang bị cho Trung đoàn 279 của Hạm đội Bắc Hải Nga và bố trí trên tàu sân bay "Đô đốc Kuznetsov".

Su-25UTG được thiết kế để huấn luyện phi công kỹ thuật cất cánh và hạ cánh, ngắn cất cánh tại đường băng ngắn, nghiêng dốc, và đường băng không bằng phẳng.


Máy bay huấn luyện và chiến đấu Su-25UTG.


Đặc điểm chính của Su-25UTG không khác biệt so với máy bay đào tạo chiến đấu của Su-25UB.

Máy bay có chiều dài 15,53m, chiều cao là 5,2m, trọng lượng cất cánh tối đa lên tới 17.600 kg. Máy bay được tích hợp 2 động cơ phản lực R-95SH, máy bay có thể đạt tốc độ tối đa 1000 km/h, trần bay thực tế của Su-25UTG là 7 km.

Máy bay tiêm kích phản lực thế hệ thứ 4 Mig-29K
Mig-29K là một loại máy bay tiêm kích phản lực thế hệ thứ 4 do Phòng thiết kế Mikoyan của Nga thiết kế và chế tạo, bắt đầu đi vào hoạt động trong Không quân Liên Xô từ năm 1983, và tiếp tục được sử dụng bởi Không quân Nga cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới.

MiG-29 được thiết kế để đối đầu với những loại máy bay tiêm kích mới của Mỹ như F-16 Fighting Falcon, và F/A-18 Hornet.

Tới nay, đã có khoảng 1.600 chiếc được sản xuất, 900 chiếc trong số đó để xuất khẩu. Một chiếc MiG–29 từng được Nga rao bán với giá 40 triệu USD/chiếc.

MiG-29 được xuất khẩu cho Algeria, Bangladesh, Bulgaria, Cuba, Cộng hòa Séc, Eritrea, Cộng hòa Dân chủ Đức, Hungary, Ấn Độ, Iran, Iraq, Malaysia, Myanmar, Triều Tiên, Peru, Ba Lan, Romania, Serbia, Slovakia, Syria, và Yemen. Các nước thuộc Liên Xô trước đây như Belarus, Kazakhstan, Moldova, Turkmenistan, Ukraine, và Uzbekistan…


Mig-29K là một loại máy bay tiêm kích phản lực thế hệ thứ 4 của Nga.


Biến thể nguyên gốc của MiG-29K với hệ thống điện tử cải tiến chỉ dành cho Lực lượng vũ trang Nga. Máy bay được trang bị vũ khí cho MiG-29 bao gồm một pháo đơn 30 mm GSh-30 với 100 viên đạn.

Ngoài ra, máy bay còn được trang bị, tên lửa không - đối - không tầm ngắn R-73 (AA-11 "Archer"), tên lửa R-60 (AA-8 "Aphid").

MiG-29B nguyên bản có thể mang bom thông thường và tên lửa không điều khiển. Những phiên bản nâng cấp có khả năng mang được bom dẫn hướng bằng laser và bom dẫn hướng quang học, cũng như tên lửa không đối đất và không đối biển.



Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2011

>> Mount Whitney - Tàu chỉ huy Mỹ trong chiến dịch Libya



[Vnexpress news] Trong chiến dịch tấn công Libya, thủy quân lục chiến Hoa Kỳ huy động 11 tàu hải quân các loại và tất cả được đặt dưới sự chỉ huy của Đô đốc Samuel Locklear từ tàu USS Mount Whitney.

USS Mount Whitney là loại tàu chỉ huy lớp Blue Ridge là đầu não ra mệnh lệnh của Hạm đội 6 hải quân Mỹ. Kể từ khi được hạ thủy năm 1969, chiếc tàu có trọng tải 18.400 tấn này đã trải qua hơn 4 thập kỷ hoạt động tại rất nhiều khu vực khác nhau trên thế giới.

Bản thân tên của tàu chỉ huy này cũng có xuất xứ thú vị. Mount Whitney (Đỉnh Whitney) là một đỉnh núi tuyết thuộc dãy Sierra Nevada của bang California. Đặc biệt hơn, Mount Whitney chính là đỉnh núi cao nhất Hoa Kỳ lục địa (không tính tiểu bang Alaska) với độ cao 4.421 m.



Một binh sĩ đang thao tác với máy tính trên tàu USS Mount Whitney. Ảnh: Life.

Không chỉ gây chú ý từ cái tên đặc biệt, USS Mount Whitney còn thực sự là một tàu hải quân được trang bị tối tân. Tàu có thể truyền và nhận một lượng lớn dữ liệu an ninh trên khắp thế giới thông qua các kênh liên lạc đa dạng. Tính năng ưu việt này giúp USS Mount Whitney trở thành một trung tâm đầu não xử lý các thông tin tình báo và hỗ trợ cho việc ra quyết định một cách chính xác.

Với chiều dài 189 mét và rộng 33 mét, chiếc tàu hải quân 42 năm tuổi này từng là nơi làm việc và sinh hoạt của 600 người cho tới tận năm 2004, trước khi số lượng này được tinh giảm xuống còn 12 sĩ quan hải quân, 150 binh nhì và 155 thủy thủ dân sự. USS Mount Whitney cũng chính là chiếc tàu đầu tiên của hải quân Mỹ có sự tham gia phục vụ lâu dài của nữ giới.

USS Mount Whitney được trang bị 2 hệ thống phòng thủ tên lửa chống tàu, 2 khẩu pháo M242 Bushmaster 25 mm, 4 súng máy tự động và nhiều hỏa tiễn Mark 36 SRBOC. USS Mount Whitney hiện có kèm theo một trực thăng cơ động SH-60 Knight Hawk. Trong 90 ngày liên tiếp, tàu hải quân này không cần phải tiếp thêm lương thực và thậm chí có thể vận chuyển hàng hóa cũng như thực phẩm các loại để cứu trợ khẩn cấp cho khoảng 3.000 người.

Kể từ năm 1971 tới năm 2004, USS Mount Whitney lần lượt hoạt động tại Đại Tây Dương, Địa Trung Hải, Caribbean, Ấn Độ Dương và Vùng Sừng Châu Phi với nhiều nhiệm vụ khác nhau trước khi tới Gaeta (Italia) vào năm 2005. Kể từ đây, tàu hải quân này mang tên chính thức là USS Mount Whitney và đảm nhận nhiệm vụ chỉ huy Hạm đội 6 thay cho tàu hải quân USS La Salle.


Tàu USS Mount Whitney. Ảnh: Clker.


Tháng 08/2008, USS Mount Whitney trở thành tàu hải quân đầu tiên của NATO cập cảng Poti (Gruzia) để tham gia công tác viện trợ nhân đạo cho những người dân bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến 10 ngày giữa Nga và Gruzia. Gần đây nhất, USS Mount Whitney trở thành cơ quan chỉ huy của thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến dịch tấn công Libya.

Tính từ tháng 02/2005 khi cập cảng Gaeta và trở thành tàu chỉ huy của Hạm đội 6, USS Mount Whiney đã trải qua hơn 32.000 dặm ngang dọc khắp các hải phận với nhiều nhiệm vụ đa dạng. Nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch tấn công Libya chính là một cột mốc tiếp theo đánh dấu tầm quan trọng của chiếc tàu này đối với hải quân Mỹ nói riêng và quân đội nước này nói chung.


Copyright 2012 Tin Tức Quân Sự - Blog tin tức Quân Sự Việt Nam
 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang