Tin Quân Sự - Blog tin tức Quân sự Việt Nam: asean

Paracel Islands & Spratly Islands Belong to Viet Nam !

Quần Đảo Hoàng Sa - Quần Đảo Trường Sa Thuộc Về Việt Nam !

Hiển thị các bài đăng có nhãn asean. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn asean. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

>> Hải quân Brunei: Nhỏ nhưng không yếu




Nước nhỏ, dân ít nhưng thu nhập đầu người rất cao, 300.000 USD/năm nên hải quân Brunei được đầu tư rất hiện đại, được “tên lửa hóa”


Mục đích là để bảo vệ vùng biển và các giếng dầu, nguồn thu nhập chính của quốc gia.

Các “chủ lực hạm” của Hải quân Brunei

Nói đến Hải quân Brunei hiện đại là nói đến các chiến hạm Nakhoda Ragam, Waspada, Daruslam và các tàu tuần tiễu khác. Trong đó, lớp tàu hộ tên lửa Nakhoda Ragam sản xuất tại Anh với hệ thống vũ khí, thiết bị hiện đại là nòng cốt của hải quân.

Vũ khí chính của tàu lớp Nakhoda Ragam gồm tổ hợp 8 tên lửa hải đối hải MBDA Exocet MM-40 block II với tấm bắn 70km, tốc độ hành trình xấp xỉ tốc độ âm thanh. Để chống máy bay và tên lửa hành trình của đối phương, tàu được trang bị hệ thống tên lửa phòng không MBDA Seawolf sử dụng động cơ nhiên liệu rắn, tấm bắn 6km, tốc độ Mach 2,5. Các tên lửa này đặt trong 16 ống phóng thẳng đứng.

Ngoài ra, tàu còn có 1 bộ pháo 76mm, 2 pháo 30mm, ngư lôi chống ngầm 324mm. Phía đuôi tàu có bãi đáp cho trực thăng hạng trung S-70B Sea Hawk. Ngoài hệ thống vũ khí hiện đại, tàu lớp Nakhoda Ragam cùng với vũ khí hiện đại, còn có tiếng động cơ cao và hệ thống chỉ huy, radar, định vị tiên tiến.



Chiến hạm Nakhoda Ragam thực hiện nhiệm vụ tuần tiễu.

Dài 89,9m, rộng 12,8m, mớn nước 3,6m, lượng giãn nước 2.000 tấn, tù lớp Nakhoda Ragam có thuỷ thủ đoàn lúc tăng cường hơn 100 người, tốc độ tối đa 30 hải lý/ giờ, tầm hoạt động 9.000km.

Sau 6 năm đặt hàng, Hải quân Brunei lần lượt đưa 3 tàu lớp trên vào biên chế, trong 2 năm 2001-2002, với tên gọi là KDB Nakhoda Ragam, KDB Bendhara Sakam và KDB Jerambak.

Đầu năm 2011, Hải quân Brunei nhận thêm 1 chiếc Nakhoda Ragam mới, có nhiều cải tiến so với 3 chiếc trong biên chế, chủ yếu là hệ thống điện tử. Tàu được trang bị radar tìm kiếm mục tiêu và kiểm soát bắn SCANTER 4100, hệ thống radar có độ nhạy rất cao, đặc biệt là trong điều kiện có nhiều tàu thuyền hoạt động như các cảng biển. Hệ thống điều khiển vũ khí quang-điện tử STING EO Mk.2. Hệ thống trinh sát quang- điện tử MEOS-2.

Trong các tàu tuần tiễu để bảo vệ vùng kinh tế đặc quyền 200 hải lý, nhiều tàu của Hải quân Brunei được tên lửa hoá. Đó là lớp tàu 3 chiếc lớp Waspada, mỗi tàu có 2 bệ phóng tên lửa hải đối Exocet MM-38. Thành viên mới nhất của Hải quân Brunei là 3 chiếc lớp Darussalam mua của Đức (mang tên KDB Daruslam, KDB Darulehsam và KDB Darulaman), vừa được biên chế trong năm 2011. Tàu lớp này dài 80m, rộng 13m có thể đi biển liên tục 3 tuần lễ và được trang bị tên lửa hải đối hải Exocet MM-40 và 1 pháo Bofors 57mm.

Ngoài ra, phải kể đến các lớp tàu tuần tiễu tốc độ nhanh gồm 4 chiếc lớp Ijhtihad gồm Ijhtihad, KDD Berkat, KDB Afiat.

Trưởng thành từ “vốn liếng” nhỏ bé

Hải quân Brunei thành lập ngày 14/6/1968 tại căn cứ Mata. Các tàu hải quân nước này đều mang danh hiệu KDB nghĩa là Kapal Diraja Brunei – Tàu hoàng gia Brunei.

Trong giai đoạn thành lập hải quân, Mata chỉ là một căn cứ nhỏ và các chiến hạm như như tàu lớp Perwira, pháo hạm tuần tiễu ven bờ với số lượng vỏn vẹn 3 chiếc được coi là “vốn liếng” ban đầu.

Đến giai đoạn 1979-1982, Brunei đã mua 3 tàu chiến cao tốc lớp Waspada, mỗi tàu có 12 tên lửa Exocet. Hải quân Brunei lúc đó cũng chỉ gồm 300 người.



Bộ 3 chiến hạm Nakhoda Ragam neo đậu tại một căn cứ hải quân.


Sau thời gian xây dựng, phát triển tiệm tiến, đến đầu những năm 1990, Brunei có kế hoạch phát triển hải quân mạnh mẽ, quân số tăng gấp hơn 3 lần và trang bị nâng hẳn về chất theo hướng hiện đại hoá – tên lửa hoá. Nước này mua sắm 3 tàu lớp Vigilance 1.000 tấn của Anh, để tuần tra ngoài khơi.

Trong 8 năm 2000-2007, Hải quân Brunei được chi hàng tỉ USD cho chương trình canh tân, riêng để mua 3 chiếc tàu hộ vệ tên lửa Nakhoda Ragam với công nghệ mới nhất của Anh, nước này đã chi 1,5 tỷ USD. Ngoài ra, phải kể tới dự án đổi mới toàn bộ hệ thống radar đối hải chạy dọc bờ biển.

Mục tiêu sắp tới của Brunei là xây dựng hải quân hiện đại, nâng cao khả năng tác chiến, khả năng hiệp đồng hải quân với không quân, lục quân kể cả trong thời tiết, địa hình phức tạp.

Theo kế hoạch, Hải quân Hoàng gia Brunei sẽ cho biên chế, mua và đóng thêm các tàu mới là nhằm thay thế các tàu mang tên lửa lớp Waspada và các tàu tuần tra ven biển lớp Perwira đã cũ bằng các tàu hải quân hiện đại hơn, nhằm thực hiện nhiệm vụ tuần tra và bảo vệ khu vực đặc quyền kinh tế 200 hải lý của đất nước này.

Như vậy, từ “vốn liếng” nhỏ bé ban đầu, Hải quân Brunei đã phát triển thành một lực lượng tinh gọn và hiện đại.

Hiện nay hải quân Brunei có quân số 1.000 người, biên chế thành 3 hải đoàn tàu chiến và 1 đơn vị đặc nhiệm hải quân. Tàu các loại có 20 chiếc, gồm 16 tàu chiến đấu (3 hộ vệ tên lửa, 13 tuần tiễu cao tốc ven bờ, phần lớn trang bị tên lửa Exocet.....), 4 tàu đổ bộ.

[BDV news]


Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

>> Học giả Trung Quốc yếu thế khi thảo luận về biển Đông





Các học giả thống nhất ở một điểm: Trung Quốc phải chịu trách nhiệm cho căng thẳng gia tăng.
Hai ngày thảo luận về an ninh hàng hải ở Biển Đông, các học giả quốc tế đặt nhiều câu hỏi về khả năng của những xung đột nóng và cuộc chạy đua vũ trang trên Biển Đông, khi các bên có xu hướng cứng rắn hơn.

Ai đang làm nổi sóng Biển Đông?

Các học giả Trung Quốc cho rằng chính Mỹ, và Việt Nam, Philippines gây căng thẳng ở Biển Đông. GS Tô Hạo nói rằng, phải có lí do gì mới xảy ra nhiều sự cố như vậy trên Biển Đông trong thời gian ngắn. Trung Quốc - Việt Nam từng hợp tác tốt trong quá khứ. Hẳn Việt Nam phải có hành động nào đó, và Trung Quốc đáp trả. (Việc đổ lỗi này không có gì mới, nếu nhìn vào những phát biểu chính thức của Trung Quốc sau các sự cố vừa qua - NV).

Một vị học giả khác cũng đến từ Trung Quốc thì cho rằng, chính Mỹ hậu thuẫn cho ASEAN nói riêng và Việt Nam nói chung trong việc nói cứng với nước này về Biển Đông. Có viên chức của Đại sứ quán Trung Quốc còn đặt thẳng câu hỏi cho học giả Việt Nam: "Nếu Mỹ không đứng đằng sau lưng, thì các anh có phản ứng mạnh như thế không?" (Trong khi đó, TS Trần Trường Thủy nói rõ: việc Việt Nam công khai những hành động của Trung Quốc là muốn Trung Quốc nghĩ lại, thay đổi cách hành xử).

Góc nhìn này không nhận được sự chia sẻ của các học giả quốc tế. Câu hỏi "có ai ở đây ủng hộ quan điểm của Trung Quốc" được đáp lại bằng tràng cười học giả, không hơn. Các học giả thống nhất ở một điểm: Trung Quốc phải chịu trách nhiệm cho căng thẳng gia tăng.Về việc các nước ASEAN kêu gọi Mỹ can dự ở biển Đông, TS Stein Tonnesson cho rằng "chuyện này hoàn toàn do lỗi của Trung Quốc, đặc biệt là do những hành vi của lực lượng hải giám nước này trong hai năm vừa rồi".



TNS John McCain tại buổi tiếp tân hội thảo. Ảnh: TT.


TNS John McCain đã "nói thẳng" sự thật "không mấy vui vẻ": Một trong những lực lượng chính làm cho các căng thẳng trên biển Đông trầm trọng hơn, và làm cho giải pháp hòa bình của các tranh chấp này khó khăn hơn để đạt được, đó là hành vi hung hăng của Trung Quốc và việc đòi chủ quyền lãnh thổ vô căn cứ mà họ tìm cách theo đuổi.

Còn GS Carl Thayer thì cho rằng Trung Quốc đang "trả đũa" Việt Nam vì vai trò của nước này trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông năm 2010 trên tư cách chủ tịch ASEAN. Hành động của Trung Quốc ở Bãi Cỏ Rong nhằm mục đích thăm dò xem liệu Hiệp định an ninh chung Mỹ - Philippines có giá trị hay không đối với cụm đảo Kalayaan.

Về việc Trung Quốc lựa chọn thời điểm cuối tháng 5 và đầu tháng 6 ngay trước và sau thềm hội nghị an ninh lớn ở Shangri-La, các học giả cho rằng chủ đích của Trung Quốc là để đo phản ứng của các nước, đặc biệt là Mỹ, đối với các động thái gây hấn của mình. Trên góc độ nào đó, Trung Quốc đã cảm thấy mình có khả năng thách thức trật tự mà Mỹ đang kiểm soát.

Đâu mới là bộ mặt thật của Trung Quốc?

Hiện nay, một mặt, giới lãnh đạo Bắc Kinh khi tiếp xúc với Mỹ (Tổng thống Obama vào tháng 1/2011 và Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates tại Shangri La) thể hiện quyết tâm kiềm chế, vì quan hệ chiến lược Mỹ - Trung. Mặt khác, Trung Quốc lại leo thang liên tục bằng các áp lực quân sự và phi quân sự lên Việt Nam và Philippines ở Biển Đông.

"Chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa lời nói và việc làm của Trung Quốc. Ngay sau những tuyên bố hòa bình của bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc ở Shangri-La chỉ vài ngày, tàu Trung Quốc lại tiếp tục cắt cáp tàu Viking 2", ông Quý chỉ rõ.

Giới học giả tại hội thảo đặt câu hỏi: Đâu mới là bộ mặt thật của Trung Quốc (real China)?

Liệu Bắc Kinh có thực sự chân thành, hay chỉ sử dụng những lời ngọt ngào ở cấp lãnh đạo chính trị để lừa phỉnh Mỹ và ASEAN tin rằng sự leo thang dọa dẫm sẽ chấm dứt? Hay lãnh đạo nước này dùng quân sự để bắt các nước ASEAN yếu hơn nhượng bộ, và có lẽ, sau đó, sẽ là sự nhượng bộ từ Mỹ?

Vẫn không có câu trả lời rõ ràng cho những câu hỏi này, trong khi mối lo về các sự cố vẫn hiện hữu, khi tần suất các sự cố thời gian qua tăng đáng ngại.

Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục những hành động lấn át, thì tình hình Ðông Nam Á sẽ rất bất ổn, vì "bất cứ một động thái nhỏ nào cũng có thể biến thành chuyện lớn", TS Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam nói.

Cần tạo áp lực ngoại giao tổng hợp, tránh đối đầu

Theo GS Carl Thayer, cả Philippines và Việt Nam nên có các bước đi để tăng cường khả năng thực thi chủ quyền quốc gia ở vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước. Sự yếu kém của họ chỉ càng mời mọc Trung Quốc hành xử quyết đoán hơn.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là đối đầu bằng vũ lực với Trung Quốc. Bởi như lo ngại của không ít học giả, chủ nghĩa dân tộc lên cao ở Bắc Kinh và Hà Nội sẽ khiến leo thang mức độ tranh chấp, theo tính toán hoặc có thể, không chủ ý.

Hiện nay, Trung Quốc hăm dọa láng giềng, láng giềng hăm dọa lại. Thế nhưng, nếu Việt Nam cứng tới mức xảy ra xung đột nóng, Trung Quốc càng hưởng lợi nhiều, vị giáo sư người Úc này nói.

Theo ông, ASEAN và cộng đồng quốc tế phải đấu tranh về mặt ngoại giao với những hành xử quyết đoán mang tính hiếu chiến của Trung Quốc.

Cần tạo "áp lực ngoại giao tổng hợp" lên Trung Quốc trong hai hội nghị tới đây, ARF và Thượng đỉnh Đông Á để nước này tôn trọng cam kết của mình trong DOC.


Tàu hải giám Trung Quốc thường xuyên quấy nhiễu vùng biển thuộc chủ quyền các nước khác.


Trong khi bác bỏ khả năng chiến tranh, trao đổi tại hội thảo, GS Tô Hạo nhiều lần nhấn mạnh Việt Nam và Trung Quốc là anh em. Theo ông này, anh em thì cũng có khác biệt. Người anh lớn hơn, mạnh hơn, luôn muốn người em nghe lời mình còn người em lúc nào cũng bị áp lực ở dưới tầm che chở của anh, nên có tâm lí sợ anh là lẽ thường.

GS Carl Thayer lưu ý, Việt Nam cần hết sức cẩn trọng tính toán việc cứng rắn với Trung Quốc. Việt Nam phải học từ lịch sử của chính mình. Hơn ai hết, Việt Nam biết "quan hệ anh em" của hai nước vẫn xảy ra chiến tranh.

TS Trần Trường Thủy khẳng định, Việt Nam không muốn đứng ở phía đối đầu với Trung Quốc. Các học giả Việt Nam và ASEAN đều nhắc lại chủ trương theo đuổi giải pháp hòa bình trên Biển Đông, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực.

Luật sư Nguyễn Duy Chiến của Học viện Ngoại giao Việt Nam lại lưu ý: "Để giải quyết mâu thuẫn cần phải dựa trên những mâu thuẫn thật chứ không thể tạo ra mâu thuẫn giả để gây căng thẳng. Một số nước cố tình ngụy tạo mâu thuẫn giả ở vùng biển của nước khác".

Về phía Trung Quốc, TS Stein Tonneson cũng nhắn Giáo sư Tô Hạo: "Trong vòng 2 năm qua, Trung Quốc đã có thái độ hiếu chiến hơn với các nước láng giềng. Tôi buộc lòng phải quy trách nhiệm cho Bắc Kinh, và hy vọng là khi về nước, ông sẽ khuyên chính quyền ông nên xét kỹ lại chính sách sai lầm của mình, và cải thiện".

ASEAN đoàn kết đưa ra COC

Ông Dino Patti Djalal, Đại sứ Indonesia - nước chủ tịch ASEAN đương nhiệm, cho rằng: "Bất cứ điều gì xảy ra đều ảnh hưởng đến toàn bộ khu vực, đến toàn bộ các nước khác trong ASEAN". Cách giải quyết tốt nhất, theo ông, ASEAN phải tiếp tục xây dựng niềm tin.

Đó cũng là một trong ba nhân tố cấu thành của Tuyên bố chung của các bên về ứng xử trên biển Đông (DOC) và tiến đến xây dựng Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên biển Đông (COC).

Hiện nay, một DOC không có tính ràng buộc pháp lý đã không ngăn được căng thẳng gia tăng trên Biển Đông.

Tiến sĩ Peter Dutton cho rằng không bao giờ thiếu những ý tưởng để giải quyết vấn đề, mà chỉ thiếu ý chí chính trị. Ông nói: "Các bên đều phải có nhượng bộ về chính trị, nếu không sẽ dẫn đến việc nước mạnh hơn sẽ làm những gì có thể làm và nước nhỏ làm điều phải làm".

Theo ông Dino, COC hiện chỉ còn vướng một, hai điều và Indonesia sẽ cố thúc đẩy việc tiến tới ký kết COC. Việc ký COC sẽ giúp tình hình biển Đông diễn biến theo chiều hướng dễ nắm bắt và có thể kiểm soát được.

Một số người lạc quan, COC có thể ra đời vào dịp kỉ niệm 10 năm DOC. Thế nhưng, Gs Carl Thayer cho rằng, điều đó khó xảy ra trừ khi ASEAN duy trì được sự thống nhất, cố kết và cùng ở một điểm. Nhưng rõ ràng, có những thành viên ASEAN khá nhát, rụt rè.

"Chính các thành viên ASEAN cần xây dựng Hiệp định về các quy tắc ứng xử trên Biển Đông, và sau khi thông qua, có thể để mở cho các quốc gia không thành viên", GS Carl Thayer gợi ý.

Theo ông, các nước khác cần ủng hộ ASEAN trong nỗ lực đạt thỏa thuận về COC.

Đồng thời, theo TS Đặng Đình Quý, các bên cần thúc đẩy hợp tác về biển và quân sự dưới hình thức tuần tra chung, diễn tập chung với sự tham gia của Trung Quốc, ASEAN và các nước có liên quan; đồng thời các bên cần công khai, minh bạch, giảm mua sắm vũ khí và thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin.

Cơ chế "gác tranh chấp, cùng khai thác" không hiệu quả

Hầu hết các học giả đều nhận định rằng cơ chế “khai thác chung” đã không phát huy tác dụng, bởi các bên không thống nhất với nhau trong việc xác định đâu là khu vực tranh chấp, đâu là khu vực không có tranh chấp. Chuyên gia của VN và Philippines có cách tiếp cận khá giống nhau về việc nên xác định đâu là vùng biển, đảo tranh chấp và đâu là những vùng không có tranh chấp để có thể tiến hành khai thác chung. Theo ông Đặng Đình Quý, cách phân loại này sẽ “tạo môi trường an toàn cho các công ty dầu mỏ” cũng như là “hợp tác về hàng hải và quân sự để xây dựng niềm tin”.

Ông Henry S.Bensurto, tổng thư ký Ủy ban các vấn đề biển và đại dương thuộc Bộ Ngoại giao Philippines, cho biết nước này đang hoàn tất đề xuất về việc chia lô các khu biển để hình thành vùng biển hòa bình, hữu nghị. Theo phương án này, các vùng biển sẽ được chia ra làm các khu vực đang tranh chấp, khu vực chồng lấn có thể áp dụng “lưỡng chế độ” để cùng khai thác cũng như các khu vực không còn tranh chấp.

Mỹ ở đâu khi Trung Quốc tạo sự cố trên Biển Đông

Về phía Mỹ, bà Bonner Glaser, Giám đốc Ban Trung Quốc của CSIS cho hay, kế hoạch của Mỹ trong năm 2011 là thể hiện bức tranh hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc. Cả hai nước đều là thành viên của khu vực, có thể hợp tác với nhau. Đáng tiếc thay, các sự cố xảy ra liên tục. Có lẽ, Mỹ cần phải xem lại kế hoạch của mình.

Theo bà Bonner, hiện nay, nhiều nước muốn Mỹ phải đứng lên, một lần nữa cảnh báo Trung Quốc về những hành động hiếu chiến của mình, dù cũng có người nhấn mạnh, Mỹ - Trung cần hợp tác nhiều hơn.

GS Tô Hạo của Trung Quốc thì cho rằng, việc Mỹ tham gia một cách tích cực để giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông cũng được Trung Quốc chào đón. Tuy nhiên "những can thiệp của Mỹ có nhiều khi không tích cực ở ĐNA và đó là lý do vì sao Trung Quốc không chào đón những can thiệp này".


Để Biển Đông không nổi sóng đòi hỏi các nước phải hành xử thiện chí và tôn trọng lẫn nhau.


Thế nhưng, TS Marvin Ott từ ĐH John Hopkins lại lo: "Khi một Trung Quốc hung hãn đang phải đối diện với một quốc gia duy nhất có thể lên tiếng mạnh nhất để chống lại tham vọng của họ, mà Mỹ không khuyên được Trung Quốc, thì tôi nghĩ chúng ta có một vấn đề lớn, và tương lai thật u ám".Theo ông, Trung Quốc "từng xem như Biển Ðông là ao nhà của mình từ năm 1949," và giờ đây trách nhiệm lớn nhất của Mỹ là tìm cách để tránh chiến tranh, duy trì ổn định thế giới.

TS Trần Trường Thủy, Học viện Ngoại giao Việt Nam chỉ ra một thực tế, năm 2002, không phải ngẫu nhiên Trung Quốc tham gia Tuyên bố của các bên về các nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông, giúp khu vực có được gần thập kỉ tương đối ổn định. Thời điểm đó, Mỹ tuyên bố Đông Nam Á là mặt trận thứ 2 trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ, khiến Trung Quốc xích lại gần, thân thiện hơn với Đông Nam Á.

Mới đây, tại ARF tháng 7/2010, sau khi 13 nước nêu vấn đề Biển Đông tại Hội nghị, và ủng hộ việc thực hiện DOC, sớm ra đời COC, và Mỹ tuyên bố lợi ích quốc gia ở Biển Đông, Trung Quốc áp dụng chính sách mềm hơn sau đó. Việc bắt ngư dân đòi tiền chuộc ít hơn, và Trung Quốc cũng ít dọa các tàu và công ty nước ngoài hợp tác với láng giềng. Trung Quốc cũng quay lại bàn đàm phán cùng ASEAN để bàn về DOC và hướng tới COC, dù những hành động có vẻ thiện chí này không diễn ra được bao lâu.

"Dù Mỹ không nói sẽ không tuyên bố ủng hộ cụ thể chủ quyền của ai, Mỹ cần lên tiếng rõ quan điểm của mình về việc Trung Quốc dựa vào đáy biển để đòi chủ quyền. Không nên để sự lập lờ, thiếu rõ ràng như hiện tại", ông Henry S. Bensurto, Tổng thư ký Ủy ban các vấn đề biển và đại dương thuộc Bộ Ngoại giao Philippines nói.

"Chính Mỹ được hưởng lợi lớn nhất nhờ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đó là duy trì bởi quyền lực và sự lãnh đạo của Mỹ. Chúng ta từ bỏ vai trò đó là nguy hiểm cho thế giới và cho chính nước Mỹ", TNS John McCain nói.

[BDV news]


Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011

>> 'Khát dầu', Trung Quốc phiêu lưu ở Biển Đông



Một đất nước với dân số lên đến 1,341 tỷ người, tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc loại nhanh nhất thế giới, năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đạt 10,3%.


Điều đó đã đặt ra những áp lực ghê gớm đối với việc đảm bảo năng lượng cho phát triển kinh tế bền vững cũng như các vấn đề ổn định nền kinh tế vĩ mô, các giải pháp an sinh xã hội.

Để đáp ứng năng lượng cho nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này, Bắc Kinh không ngừng mở rộng và tăng cường khai thác tài nguyên khoáng sản để phục vụ cho nền kinh tế.

Ngoài việc tăng cường hết công suất các dự án khai thác tài nguyên trong nước, Bắc Kinh còn nhanh chóng vươn ra khắp thế giới để tăng cường khai thác tài nguyên, đặc biệt là khu vực châu Phi.

Đầu năm 2011, biến cố chính trị tại Trung Đông và Bắc Phi, đặc biệt là cuộc chiến NATO gây ra ở Libya khiến Bắc Kinh chịu nhiều thiệt hại kinh tế to lớn.

Chiến sự biến quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn thứ 4 khu vực châu Phi rơi vào cuộc nội chiến đẫm máu. Đã 3 tháng sau khi chiến dịch không kích Libya được bắt đầu, tình hình ở đây ngày càng trở nên tồi tệ hơn.

Theo số liệu được công bố bởi China Africa Real Story, trước khi xảy cuộc không kích của NATO chống lại chính quyền của Tổng thống Libya Gaddafi: Có khoảng 36.000 lao động Trung Quốc đang làm việc tại Libya cùng với 75 công ty đang triển khai các dự án khai thác dầu mỏ và các dịch vụ liên quan. Tổng cộng có hơn 125 công ty, với 50 dự án lớn cùng với 60.000 lao động Trung Quốc đang làm việc tại các quốc gia Bắc Phi.

Cuộc nội chiến giữa quân đội chính phủ và lực lượng nổi dậy, tiếp đến là chiến dịch không kích Libya khiến toàn bộ dự án đang dang ở của Trung Quốc cũng như một số quốc gia khác phải đóng cửa.

Toàn bộ số lao động nói trên buộc phải sơ tán khỏi Libya để trở về Trung Quốc, tạo thêm áp lực để giải quyết công ăn việc làm cho số lao động này. Hơn 75 công ty Trung Quốc đang làm việc tại Libya buộc phải để lại số tài sản có giá trị tại đây.



Việc phải di tản khỏi Bắc Phi đã tạo ra một cú "sốc" với kinh tế Trung Quốc.


Theo một báo cáo, cuối năm 2010, Trung Quốc hợp tác đầu tư nước ngoài với 16.000 công ty trên khắp thế giới, hơn 1.400.000 lao động đang làm việc, tổng giá trị tài sản nước ngoài đạt hơn 1.200 tỷ USD. Hiện tại, Trung Quốc chưa có biện pháp cụ thể nào để bảo vệ số tài sản này trong trường hợp xảy ra chiến tranh.

Số tài sản này gần như mất trắng bởi chiến tranh tại đây, chưa hết thiệt hại to lớn hơn cả đó là nguồn cung cấp dầu thô từ Libya gần như bị cắt đứt. Các nhà máy lọc dầu tại Trung Quốc bị “đói nguồn cung”

Biến cố này có thể coi là một cú “sốc” đối với nền kinh tế Trung Quốc, cùng với đó, sự can thiệp quân sự ngày càng sâu rộng của NATO tại Libya khiến cơ hội quay trở lại với các dự án khai thác dầu mỏ dang dở tại đây gần như bằng 0.



Việc thiếu kho dự trữ dầu mỏ chiến lược khiến nền kinh tế Trung Quốc dễ bị tổn thương từ việc gián đoạn nguồn cung. Ảnh minh họa

Hiện tại, Trung Quốc là nhà nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ 2 thế giới sau Mỹ, nhưng khác với Washington, Bắc Kinh thiếu một kho dự trữ dầu mỏ chiến lược đủ để đáp ứng nhu cầu năng lượng trong trường hợp xảy ra khủng hoảng nguồn cung như Mỹ hay EU.

Theo một báo cáo được đăng tải bởi Financial Times, Trung Quốc đang lên kế hoạch xây dựng kho dự trữ dầu mỏ chiến lược với trữ lượng khoảng 500 triệu thùng. Đủ dùng cho khoảng 100 ngày sau khi gián đoạn nguồn cung.

Thế nhưng, phải đến tận năm 2020, kho dự trữ chiến lược này mới hoàn thành. Ngay cả vậy, các chuyên gia kinh tế dự đoán, kho dự trữ này cũng chỉ đáp ứng được khoảng 75-85 ngày sau nhập khẩu. Biến cố tại Libya đã làm cho kế hoạch này bị gián đoạn và chưa biết khi nào mới hoàn thành.

Theo Economist, trước khi xảy ra chiến tranh Libya, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 150.000 thùng dầu thô mỗi ngày từ Libya, chiếm 3% tổng sản lượng dầu thô của Libya. Con số này sẽ tăng cao hơn nữa sau khi các dự án mới hoàn thành.

Việc nguồn cung dầu mỏ từ Libya bị cắt đứt càng làm cho áp lực năng lượng cho phát triển kinh tế của Trung Quốc thêm trầm trọng.




Áp lực năng lượng cho phát triển kinh tế khiến Bắc Kinh trở nên liều lĩnh hơn, trong ảnh tàu hải giám Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm lãnh hải Việt Nam.


Việc công bố chủ quyền đường “lưỡi bò” chiếm 80% diện tích biển Đông đang gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của các quốc gia ASEAN đặc biệt là các quốc gia có tranh chấp trực tiếp với Bắc Kinh về chủ quyền biển đảo.

Khi tham vọng của mình chưa đạt được, Bắc Kinh trở nên “nóng mặt” khi thấy các quốc gia ASEAN tăng cường các dự án khai thác tài nguyên ở nơi đây.

Tài nguyên khoáng sản trên biển là có giới hạn, Bắc Kinh hiểu rõ điều này, và họ bất chấp thủ đoạn để cản trở hoạt động khai thác hợp pháp của các nước khác, thậm chí sử dụng tới các giải pháp “nhỏ nhen” là phá rối các hoạt động thăm dò dầu khí.Chỉ trong thời gian ngắn, tàu hải giám và tàu cải trang thành tàu đánh cá của Trung Quốc đã 2 lần xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để phá hoại hoạt động thăm dò dầu khí trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam.

Mưu đồ của Bắc Kinh là quá “thô thiển”, cản trở các hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam, kéo dài quá trình triển khai khai thác dầu khí. Tạo tâm lý ức chế cho Việt Nam và hòng làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài đang hợp tác với PetroViet Nam.

Bắc Kinh đang cố tình biến phần biển Đông nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ một vùng biển bình yên thành nơi sóng gió.

Vì vậy, đối phó với “mưu đồ” này của Trung Quốc, ASEAN cần thể hiện tinh thần đoàn kết hơn nữa, hợp tác chặt chẽ với nhau vì lợi ích chung. Cần có các chính sách hợp lý để bảo vệ tài sản của quốc gia cũng như của nhà đầu tư nước ngoài.



[BDV news]



Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011

>> “ASEAN sẽ buộc Trung Quốc tuân thủ những cam kết về Biển Đông"



Indonesia sẽ chủ trì Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á vào tháng 10 với sự tham gia lần đầu tiên của Mỹ. Giới phân tích cho rằng điều này sẽ giúp ASEAN có thêm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để buộc Trung Quốc tuân thủ những cam kết ở Biển Đông.


Ngay từ những năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã ký kết Tuyên bố Ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) - một tuyên bố về cách hành xử ở Biển Đông, trong đó cả hai bên cam kết sẽ không dùng đến vũ lực.


Hải quân Việt Nam trên quần đảo Trường Sa.


Cuối năm ngoái, trong cuộc họp nhóm làm việc hỗn hợp Trung Quốc - ASEAN bàn về việc triển khai DOC, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng đã tuyên bố chính quyền Bắc Kinh và các nước ASEAN cam kết sẽ duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực biển Biển Ðông. Thông cáo từ Bắc Kinh cho hay tất cả các bên tại cuộc họp này nhấn mạnh tầm quan trọng của DOC đồng thời cam kết biến Biển Đông thành một khu vực hòa bình, hợp tác và hữu nghị.

Nhưng ngay sau đó, Ðô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ, nhận định rằng Trung Quốc đang xúc tiến triển khai hệ thống tên lửa “chống tàu sân bay”. Vị chỉ huy này cũng nhận định rằng Trung Quốc nhắm mục tiêu trở thành một cường quốc quân sự toàn cầu bằng cách mở rộng ảnh hưởng ra “bên ngoài lãnh hải khu vực”, ngoài những vùng biển mà Bắc Kinh hiện đặt trọng tâm, trong đó có Biển Đông.

Mặc dù Trung Quốc cho rằng họ luôn tôn trọng hòa bình tại vùng Biển Đông, những động thái có tính khẳng định một cách mạnh mẽ chủ quyền của Bắc Kinh trong khu vực này khiến nhiều quốc gia trong khu vực e ngại.

Nhận định về vai trò của ASEAN trong việc hòa giải các vụ tranh chấp lãnh thổ này, Giáo sư Carl Thayer thuộc Ðại Học New South Wales (Australia) - một chuyên gia nghiên cứu quân sự kiêm giám đốc diễn đàn Nghiên Cứu Quốc Phòng, cho biết Indonesia, với tư cách là chủ tịch ASEAN đã có những bước đi chủ động.

Theo ông, Indonesia sẽ chủ trì Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á vào tháng 10 tới với sự có tham gia lần đầu tiên của Mỹ. Điều này sẽ giúp ASEAN có thêm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, buộc Trung Quốc phải tuân thủ theo những ký kết của mình.

Trong tuyên bố mới nhất từ Nhà trắng, Mỹ đã kêu gọi giải quyết các căng thẳng trên Biển Đông bằng giải pháp hòa bình. “Mỹ và cộng đồng quốc tế nói chung đều quan tâm đến việc duy trì an ninh hàng hải trong khu vực, để bảo đảm sự tự do lưu thông, phát triển kinh tế và tôn trọng công pháp quốc tế”, người phát ngôn Nhà trắng hôm 10/6 nói.

Cuối tuần trước, tại Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates cũng đã cảnh báo là xung đột có thể bùng nổ trên Biển Đông, trừ phi các quốc gia tranh chấp chủ quyền thông qua một cơ chế giải quyết một cách hòa bình.

Hải quân Mỹ cũng vừa triển khai tàu USS Chung-Hoon, một khu trục hạm có trang bị tên lửa, đến khu vực Biển Đông và Biển Sulu (tây nam Philippines ) trong tuần này để kiểm tra việc thực hiện quyền tự do lưu thông hàng hải tại các vùng biển này.

Về mặt chính thức, theo thông báo của đại sứ quán Mỹ ở Manila, USS Chung-Hoon là một trong những chiến hạm của Hải quân Mỹ được mời tham gia cuộc tập trận thường niên Mỹ-Philippines trong khuôn khổ hiệp định quốc phòng song phương.

Trong khi đó, Đại sứ Mỹ tại Manila Harry Thomas Jr. vừa lên tiếng bảo đảm là Mỹ sẽ yểm trợ Philippines “chống lại mọi đe dọa đối với an ninh của nước này”.


[Vitinfo news]



Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2011

>> Hải quân Philippines: Rục rịch tái cơ cấu



Để duy trì môi trường an ninh biển hòa bình và ổn định, cùng hợp tác và phát triển, các nước ASEAN đang từng bước củng cố lực lượng hải quân của mình.


Philippines đang có những bước đi cụ thể nhằm tái cơ cấu lực lượng hải quân. Lực lượng thiện chiến nhất của hải quân nước này là các đơn vị tác chiến thủy – bộ, có kinh nghiệm phối hợp với không quân, cảnh sát biển đối phó các nhóm khủng bố ở miền Nam, quanh đảo Mindanao.

“Chạy đà” hàng thập kỷ

Là quốc đảo, Philippines đã rất chú trọng phát triển hải quân, bao gồm lực lượng tàu mặt nước, không quân hải quân, hải quân đánh bộ… từ khá sớm. Ngày 9/5/1955, lực lượng tàu tấn công mặt nước ra đời. Đến năm 1988, bộ phận này trở thành lực lượng tác chiến biển gần. Lực lượng sẵn sàng tác chiến của hải quân xuất hiện muộn hơn (16/11/1964), ra đời để kiểm soát hoạt động trên biển, phối hợp với các đơn vị khác.

Từ năm 1947, Không quân hải quân Philippines được trang bị 2 máy bay vận tải nhưng phải đến ngày 16/9/1975, binh chủng này mới chính thức được thành lập. Về lực lượng Hải quân đánh bộ, ban đầu Philippines chỉ có 1 đại đội, nay đã phát triển thành một binh chủng mạnh.

Được xây dựng, trang bị khá hoàn chỉnh nhưng phải sau năm 1975, Philippines mới nhận thức vai trò của mình một cách độc lập hơn để đưa đất nước, trong đó có quân đội và hải quân vào chặng đường mới.

Hiện đại hóa với nhiều tỷ USD

Một trong những động thái cụ thể là việc Philippines thành lập và phát triển 4 công ty quốc phòng then chốt: Công ty các hệ thống chính xác Creser, chuyên về công nghệ và đạn dược; Công ty phát triển hàng không vũ trụ PAD giúp hải quân lắp ráp máy bay lên thẳng, bảo dưỡng và sữa chữa động cơ; Công ty GKN Defence sửa chữa các xe bọc thép tác chiến thủy-bộ; Công ty Hàng không (thành lập năm 1989) giúp hải quân nước này các loại pháo, cấu kiện composit của máy bay…

Thế nhưng, sự đầu tư rõ ràng nhất là ở các chương trình mua sắm vũ khí. Trong giai đoạn 1991-2000. Năm 1994, nước này ký hợp đồng mua các tàu tên lửa tốc độ cao của Pháp, mua các tàu pháo cao tốc của Mỹ, hợp tác với Đức đóng và sửa chữa tàu. Nhân đà này Không quân Hải quân Philippines mua máy bay trinh sát OV-10, trực thăng vũ trang MD-500, UH-1H, MG-520…


http://nghiadx.blogspot.com
Chiến hạm Hamilton sắp được Philippines mua.

Gần đây, ngày 7/3/2011, Hải quân Philippines cho biết đã mua một chiếc tàu tuần tra lớp Hamilton lớn của Mỹ, nhằm tăng cường khả năng tuần tra biển của Hải quân Philippines.. Được trang bị một nhà chứa máy bay có thể thu lại, một sàn bay cho trực thăng và trang bị 2 động cơ hoặc các tua bin khí, Hamilton được đánh giá là một chiếc tàu có khả năng hoạt động cao với các hệ thống vũ khí phòng thủ tầm gần.Nhân dịp này, ông Trung tướng Eduardo Oban phát biểu, “Chúng ta phải duy trì những nỗ lực để tiến hành hiện đại hóa lực lượng vũ trang của chúng ta”.

Trước đó, ngày 3/1/2011, Philippines thông báo dự định mua 7 tàu chiến vào năm 2011 để cải thiện và nâng cao khả năng tác chiến của hải quân. “Chúng tôi muốn nâng cao khả năng tác chiến của lực lượng hải quân. Việc mua sắm 7 tàu hải quân mới sẽ giúp chúng tôi thực hiện nhiệm vụ này”, Đại úy Giovanni Bacordo, phát ngôn viên Hải quân Philippines tiết lộ với hãng thông tấn Philstar: các tàu tấn công đa năng sẽ được sử dụng để triển khai quân trong quá trình chiến đấu, có giá 7,2 triệu USD mỗi chiếc. Còn tàu đổ bộ có giá 14,3 triệu USD/chiếc được sử dụng để vận chuyển binh sĩ và đảm bảo hậu cần. Trong khi đó, các tàu tuần tra sẽ được sử dụng để tiến hành tuần tra tại mỏ khí.

Theo kế hoạch, đến năm 2015, Hải quân Philippines sẽ có nhiều tỷ USD trong chương trình hiện đại hóa quân đội để mua tàu tuần tiễu cao tốc, máy bay hải quân, thiết bị thông tin liên lạc hiện đại, phương tiện cứu hộ, nâng cấp căn cứ, xây dựng cơ sở huấn luyện.. Song song với quá trình đó, Philippines tiến hành loại bỏ các tàu chiến, phương tiện cũ.

Hiện trong biên chế của Hải quân Philippines có lẽ, sự phục vụ của chiến hạm BRP Rajah Humabon “3 nhất” hình ảnh sinh động cho những chặng đường phát triển của lực lượng này. BRP Rajah Humabon là khu trục hạm mạnh nhất, lớn nhất của Hải quân Philippines, đồng thời cũng là một trong những chiến hạm “cổ” nhất ở Đông Nam Á, có thời gian phục vụ lên tới 67 năm.

Được đưa vào hoạt động từ năm 1943, BRP Rajah Humabon được chính thức biên chế trong Hải quân Philippines vào năm 1978. Hoạt động được 1 năm, chiến hạm này được nâng cấp và phục vụ tới năm 1993. Tưởng đã được “nghỉ hưu”, vậy mà đến năm 1995, Humabon “tái xuất” trong vai trò tàu hộ tống, tuần tra đến ngày nay.


http://nghiadx.blogspot.com
BRP Rajah Humabon, chiến hạm tiêu biểu của Philippines.

Từng có khả năng săn tàu ngầm nhưng vì lạc hậu, hệ thống định vị thủy âm đặt trên thân tàu EDO SQS-17B, bom phá tàu ngầm, hệ thống súng cối chống ngầm Hedgehog Mk 10, ngư lôi chống ngầm Mk 38..., lần lượt bị gỡ bỏ. Đến nay, vũ khí chống hạm mạnh nhất của tàu gồm 3 pháo 76,2mm Mk 22 có tầm bắn 13,4km, dùng để tấn công mục tiêu ven biển, tàu chiến hoặc chống máy bay. Ngoài ra, hỏa lực phòng không gồm 3 pháo cỡ 40mm Bofor, 6 pháo Mk 4 20mm Oerlikon, 4 súng máy 12,7mm. Nhìn chung, hệ vũ khí trên Humabon đều quá cũ, thao tác thủ công, tốc độ bắn chậm, chỉ thích hợp với nhiệm vụ tuần tra.

Chưa đến đích trên con đường cơ cấu lực lượng, Hải quân Philippines dựa nhiều vào yếu tố con người để thực hiện các nhiệm vụ. Trong số các binh chủng của Hải quân Philippines, lực lượng tác chiến đặc biệt là đơn vị tinh nhuệ nhất, hoạt động trên biển, trên bộ và trên không, thực hiện các nhiệm vụ trinh sát, cận chiến, hoạt động tác chiến dưới mặt nước. Đơn vị này đã lập được một số thành tích trong các chiến dịch truy quét phiến quân ở miền nam nước này.

Hải quân Philippines có số quân nhân lên tới 24.000 người, bảo vệ bờ biển 3.500 người. Dưới Bộ tư lệnh Hải quân có 1 Bộ tư lệnh Hạm đội, 6 vùng hải quân, Bộ Tư lệnh Hải quân đánh bộ (3 lữ hải quân đánh bộ, 1 lữ dự bị, 1 lữ phục vụ và yểm trợ chiến đấu…)

Hải quân Philippines trang bị: 63 tàu chiến đấu, 1 tàu hộ tống Rajah Humabon, 13 tàu tuần tiễu, 49 tàu tuần tiễu ven bờ; 7 tàu đổ bộ (có thể chở 16-32 xe tăng, 150-200 người, 39 phương tiện đổ bộ…; 11 tàu phục vụ (tàu dầu, tàu nước, tàu sửa chữa, tàu nghiên cứu biển)… Trong đó, Không quân hải quân có 13 chiếc BN-2A, BO-105 và Cessna-117; Hải quân đánh bộ với 8.000 người, có 110 xe thiết giáp gồm 25 chiếc LAV-300 và 85 chiếc LVTP-5, LVTP-7, 150 khẩu pháo 105mm; Lực lượng ven bờ (cảnh sát biển) được trang bị 60 tàu, xuồng tốc độ cao cùng một số máy bay trực thăng tuần thám;


[BDV news]


Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011

>> Đang hình thành liên minh đối phó Trung Quốc



Lo ngại sự lớn mạnh và những hành động cứng rắn của Trung Quốc, nhiều láng giềng của Bắc Kinh đang dần đoàn kết lại với nhau để hình thành liên minh chống lại “gã khổng lồ” này, South China Morning Post đưa tin.

Đoàn kết vì Trung Quốc

Theo SCMP, GAPAC (viết tắt của Grouping of Asian Powers Around China - Nhóm các thế lực xung quanh Trung Quốc) đang trong giai đoạn hình thành.

Về thành viên, GAPAC gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Australia... những láng giềng lo ngại sự lớn mạnh của Trung Quốc.



Nhiều láng giềng của Bắc Kinh đang đoàn kết lại với nhau. Ảnh minh họa.


Hiện GAPAC mới trong giai đoạn “phôi thai", ở mức là một tập hợp, được gắn lại với nhau nhờ “chất keo”: “kháng cự Trung Quốc”.
Do đó, họ chưa có ban thư ký, chẳng có hiến chương mà cũng chưa có các cuộc họp thường niên, thậm chí là một phát ngôn viên.

Tuy nhiên, các kênh liên lạc, sự hợp tác bí mật giữa các thành viên đang gia tăng, tỉ lệ thuận với những nguy cơ về chiến lược, an ninh mà Trung Quốc đặt ra.

Về hình thức, các cuộc gặp của các thành viên GAPAC ít khi được thông báo rầm rộ nhưng cũng không khó để nhận ra những mối liên hệ mang tính chiến lược giữa các thành viên.

Đơn cử như hai cường quốc Nhật Bản và Ấn Độ dù cách xa địa lý, khác biệt lớn về văn hóa... đang chủ động “tán tỉnh” lẫn nhau, hợp tác với nhau trong lĩnh vực năng lượng, quốc phòng... Hay như bộ đôi Hàn Quốc - Australia đang cùng nhau truyền sinh lực cho liên minh Đông Á vốn được Washington, Tokyo và Seoul ủng hộ...

Dễ thấy hơn nữa là những gì diễn ra tại hội nghị Đối thoại Shangri-La 10 vừa diễn ra tại Singapore. Trong khi Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt là “ngôi sao” của hội nghị, thu hút sự mọi “ánh đèn sân khấu” thì phía sau “tấm rèm” là hàng loạt cuộc họp không chính thức của các thành viên GAPAC mà.các phương tiện truyền thông vẫn gọi là các cuộc gặp bên lề Shangri-La, thậm chí một số còn không được đưa tin...


Hàng loạt cuộc gặp bên lề Shangri-La diễn ra. Ảnh minh họa.

Tính về “tuổi tác”, GAPAC rất non trẻ khi so với nhiều tổ chức, kể cả Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tổ chức định hình Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (liên kết các cường quốc như Trung Quốc, Mỹ, Nga...).

Tuy nhiên, xét về khả năng ra quyết định, GAPAC mạnh hơn ASEAN và dường như khối này phản ứng nhanh hơn với những diễn biến đang xảy ra. Tuy nhiên, đây vẫn là một vấn đề cần được thử thách trong thời gian tới.

Về mục tiêu, trong bối cảnh Bắc Kinh đẩy mạnh chính sách ngoại giao quân sự, các thành viên GAPAC âm thầm phối hợp để chống lại nước này; giống như một quan chức an ninh Ấn Độ khẳng định: “ Chúng tôi đều hài lòng khi những quan chức như Tướng Lương Quang Liệt can dự nhiều hơn vào khu vực. Tuy nhiên, ở hậu trường, chúng tôi mới tìm thấy sự an toàn khi đoàn kết với nhau. Nói cách khác, các cường quốc châu Á xích lại gần nhau nhằm tìm đối sách với Trung Quốc”.

Cựu cố vấn cho Tổng thống Hàn Quốc là Tiến sĩ Lee Chung-min thì cho biết: “Trung Quốc đang đẩy chúng tôi lại với nhau. Bắc Kinh quá lớn để bị kiềm chế nhưng chúng tôi vẫn phải tìm cách khống chế họ. Chúng tôi phải hiểu, hỗ trợ và cân bằng với nhau”.

Tuy nhiên, GAPAC đang gặp khá nhiều khó khăn. Quan trọng nhất là việc tất cả các thành viên đều đang trong tình thế lưỡng nan trong quan hệ với Trung Quốc. Cụ thể thì mỗi thành viên đều có lợi khi Trung Quốc phát triển nhưng ngược lại, họ lo sợ chính việc Bắc Kinh lớn mạnh. Do đó, họ vừa phải ủng hộ Trung Quốc tiến lên, nhưng vẫn phải chuẩn bị để đứng lên kháng cự lại Bắc Kinh khi thấy cần thiết.

Trung Quốc đang đẩy ASEAN vào vòng tay Mỹ

Theo RUVR, với nhiều hành động cứng rắn công khai, Trung Quốc đang buộc nhiều láng giềng tìm kiếm đối trọng cân bằng. Riêng với ASEAN, Trung Quốc đang đẩy khối này vào vòng tay Mỹ.

Nguyên nhân thì có nhiều nhưng quan trọng nhất vẫn là tranh chấp ở biển Đông. Cách đây chưa lâu, Philippines gửi Liên Hiệp Quốc công hàm chính thức, khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.

Đó là phản ứng đối với hành động của Trung Quốc, bởi Bắc Kinh công bố vùng lợi ích của mình bao trùm gần như toàn bộ biển Đông có trữ lượng dầu khí dồi dào và tài nguyên sinh vật biển rất phong phú.

Manila cũng đưa ra tuyên bố do thực tế là các tàu hải quân Trung Quốc lấn át tàu của Philippinnes đang thăm dò dầu khí trong khu vực tranh chấp.

Trước đó, các nước ASEAN cố gắng giảm độ gay gắt của vấn đề. Năm 2002, ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố về cách ứng xử trong biển Đông.

Trong văn kiện quy định về sự sẵn sàng từ bỏ đối đầu và giải quyết vấn đề quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa thuần túy bằng con đường ngoại giao; quy nhận cần thiết hoạch định một cơ chế giải quyết tranh chấp lãnh thổ, để quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như các vùng biển xung quanh trở thành “khu vực của hòa bình và hợp tác”.

Cuộc tranh chấp xung quanh các quần đảo trên biển Đông cần và có thể giải quyết bằng nỗ lực của tất cả các thành viên hữu quan, Phó Giám đốc Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế Vasily Mikheev nêu ý kiến.

Ông cho biết: “Trung Quốc và ASEAN có thỏa thuận cơ bản về cùng chung sử dụng các quần đảo này, về việc tại đây là khu vực phi hạt nhân, khu vực hòa bình và v.v... Đó là Tuyên bố về cách ứng xử ở biển Đông. Nhưng thỏa thuận này mang tính chất văn kiện khung, chỉ xác định những nguyên tắc quan hệ cơ bản. Nhiệm vụ giờ đây là ở chỗ, làm thế nào để biến thỏa thuận này thành cơ chế hành động thực tiễn, không chia rẽ mà liên kết các quốc gia lại với nhau".

"Dưới tác động tiêu cực thể hiện qua tất cả các động thái ngoại giao thời gian gần đây, tôi nghĩ rằng ban lãnh đạo các nước tuyên bố tham vọng chủ quyền với các quần đảo này cần thêm một lần nữa suy nghĩ kỹ lưỡng, có thái độ tiếp cận nghiêm túc hơn với vấn đề, làm thế nào để biến thỏa thuận khung thành những bước đi thực tế”, chuyên viên Nga nhận xét.

Tuy nhiên hiện thời Trung Quốc tỏ ra không vội gì tuân thủ tinh thần và văn bản của Tuyên bố. Các hành động cứng rắn công khai của Trung Quốc thực sự đang buộc các láng giềng phải tìm kiếm một đối trọng để cân bằng với thế lực ngày càng tăng của Bắc Kinh trong khu vực.

Hôm nay, trong cuộc tìm kiếm đó, các nước ASEAN đang thể hiện sự quan tâm rằng Mỹ không chỉ duy trì mà còn tăng thêm sự hiện diện tại khu vực. Nguyện vọng đó hiển nhiên được Washington hoan nghênh.

Năm ngoái trong hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói rằng nước Mỹ có “lợi ích quốc gia tới tự do hàng hải và sự tôn trọng pháp quyền quốc tế trong khu vực biển Đông”.

ASEAN hy vọng rằng đến 2012 – mốc đánh dấu 45 năm thành lập tổ chức – sẽ ký kết Quy tắc ứng xử ở biển Đông. Luật phải mang tính bắt buộc đối với tất cả các quốc gia trong khu vực. Nếu mục tiêu này trở thành hiện thực, thì biển Đông sẽ có thể trở thành một khu vực của hòa bình và hợp tác.
[BDV news]



Thứ Ba, 7 tháng 6, 2011

>> Trung Quốc khó thuyết phục láng giềng



Tại Đối thoại Shangri-la, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt nói nhiều đến hợp tác và trấn an các nước láng giềng, nhưng các nước này vẫn phải nhắc lại yêu cầu Bắc Kinh 'biến lời nói thành việc làm" cụ thể.


Tạp chí Foreign Policy bình luận về cách tiếp cận của Trung Quốc đối với tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông tại hội nghị an ninh châu Á vừa rồi ở Singapore, như sau:

Lần đầu tiên dẫn một phái đoàn lớn đến Singapore, ông Lương Quang Liệt muốn khẳng định với cộng đồng quốc tế về một nước Trung Quốc đang mạnh lên nhưng ôn hòa, không đe dọa ai, và muốn đóng một vai trò tích cực hơn trong môi trường an ninh ở Đông Nam Á. Nhưng những câu từ to tát cộng với việc phủ nhận toàn bộ các hành động trong thời gian gần đây của Trung Quốc đối với các quốc gia nhỏ láng giềng, khiến các đại biểu, các chuyên gia và quan chức chính phủ cảm thấy không thuyết phục.

Ông Lương có bài phát biểu dài 45 phút, nói về các chính sách của Quân Giải phóng PLA đối với các vấn đề khu vực, trong đó có biển Đông; công cuộc hiện đại hóa quân đội Trung Quốc; hợp tác an ninh trong vùng. Ông cũng nhận và trả lời câu hỏi của báo chí, tỏ ra rất vui mừng trước mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng.

"Hơn ai hết, Trung Quốc muốn có ổn định và hòa bình trong khu vực. Chúng tôi phản đối bất kỳ hành động nào có thể dẫn đến bất ổn khu vực hoặc làm giảm lòng tin giữa các nước láng giềng. Trung Quốc theo đuổi chính sách xây dựng tình hữu nghị và đối tác với các nước láng giềng", ông Lương nói.


Một tàu ngầm của Trung Quốc gần căn cứ tàu ngầm ở đảo Hải Nam. Vị trí của căn cứ tàu ngầm này cho phép các chiến hạm Trung Quốc nhanh chóng triển khai - trong vòng 20 phút - ra Biển Đông, nơi có các tuyến đường hàng hải bận rộn hạng nhất thế giới và là vùng biển rất giàu tài nguyên. Ảnh: FP.

Tuy thế ông Lương không công nhận bất kỳ hành động nào trong thời gian gần đây mà Trung Quốc đã thực hiện đối với các nước Đông Nam Á, khiến cử tọa gồm các quan chức quân sự và chuyên gia cao cấp đến từ 35 đoàn thất vọng. Hai bộ trưởng quốc phòng Việt Nam và Philippines, phát biểu ngay sau ông Lương, đã đưa ra những phản bác công khai và sắc bén đối với thái độ của Trung Quốc.

"Chúng tôi luôn luôn trông đợi Trung Quốc tôn trọng các chính sách mà họ đã công bố với thế giới, chúng tôi mong rằng những lời tuyên bố đó sẽ được biến thành sự thực", Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh nói. Ông đề cập việc tàu của Việt Nam hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bị tàu Trung Quốc cắt cáp.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Tuvera Gazmin thậm chí còn mạnh mẽ hơn nhiều, và kêu gọi sự hiện diện quân sự mạnh hơn của Mỹ trong khu vực. Gazmin tố cáo Trung Quốc nhiều lần có hành động đe dọa các thuyền đánh cá của Philippines ở gần các đảo mà Manila tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa.

"Những hành động đó gây bất an không chỉ cho chính phủ, mà còn quấy rối những người dân thường, những người vốn phải dựa vào môi trường biển để mưu sinh", Gazmin nói.

Trung Quốc đang cố làm dịu hình ảnh của mình ở Đông Nam Á, sau sự thoái trào trong mối quan hệ gây ra bởi lập trường cứng rắn của Bắc Kinh đối với các vấn đề khu vực, chẳng hạn như các tuyên bố "đường lưỡi bò" hay "lợi ích cốt lõi".

"Đó là sự lấy lòng. Mục tiêu của ông Lương là tránh tấn công hay chiến đấu với bất cứ ai và cố xóa đi những dấu vết của thái độ mạnh bạo trong hai năm qua. Họ đã nhận ra rằng cách thức đó không có lợi cho họ", một đại biểu Mỹ nói.

Tuy nhiên các hành động trên thực địa lại khiến người ta khó tin rằng Trung Quốc đang dành sự quan tâm hoàn toàn cho việc thương thảo tìm giải pháp.

"Tôi không cho là bài phát biểu đó trấn an được ai. Nó không giải đáp được những câu hỏi và mối quan ngại mà các nước láng giềng đang đặt ra trước thái độ của Trung Quốc", đại biểu nói trên bình luận.

Trong Đối thoại lần này, cả Mỹ và Trung Quốc dùng những lời lẽ nồng ấm, không đả động đến chuyện gây bất đồng đôi bên là vấn đề Đài Loan. Hai thế lực quân sự lớn nhất ở châu Á Thái bình dương đã hết sức tránh không để mếch lòng nhau.

"Thông điệp của ông Lương nhấn mạnh quyết tâm đi theo con đường phát triển hòa bình và sẵn sàng ủng hộ an ninh khu vực", Bonnie Glaser, nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế nhận xét.

"Tất cả những lời to tát trong bài phát biểu của ông Lương là nhằm trấn an khu vực", một đại biểu khác của Mỹ nói. "Nhưng, theo dõi việc hỏi đáp, thì thấy có một số câu hỏi không được giải đáp và điều đó gây quan ngại, nó cho thấy khoảng cách giữa lời nói với việc làm trong thái độ của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và quá trình hiện đại hóa quân đội của họ".

[BDV news]


Thứ Hai, 6 tháng 6, 2011

>> Sự đối lập trong chiến lược hàng hải Trung Quốc



Hai sự việc gần đây liên quan tới chiến lược hàng hải của Trung Quốc đã nhấn mạnh tính chất phức tạp từ sự trỗi dậy của Bắc Kinh trong thế kỷ 21.

Câu chuyện thứ nhất, nói về sự kiềm chế của Trung Quốc, là việc Bắc Kinh từ chối tiếp nhận các hoạt động ở cảng biển Gwandar thuộc Baluchistan, Pakistan. Đây là lời đề nghị mà Bộ trưởng Quốc phòng Pakistan Ahmad Mukhtar đưa ra khi ông trở về sau một chuyến thăm Trung Quốc cùng với Thủ tướng Yousaf Reza.


Tàu hải giám Trung Quốc đã quấy nhiễu và gây thiệt hại với tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam khi tàu thăm dò hoạt động trong phạm vi thềm lục địa của Việt Nam Ảnh: peopledaily


Lời từ chối của Bắc Kinh khiến tất cả mọi người ngạc nhiên. Sau mọi thứ, Bắc Kinh đã đầu tư khoảng 200 triệu USD để xây dựng cảng này. Đây là một vị trí chiến lược, là thành phần quan trọng của chiến lược hải quân Trung Quốc mang tên “Chuỗi hạt trai”.
Như đã từng lập luận, việc mở rộng ngoại giao hàng hải của Trung Quốc cơ bản bắt nguồn từ tính cấp thiết phải đảm bảo sự tiếp cận các nguồn dự trữ năng lượng để đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của nước này. Tác giả Robert Kaplan cũng đã có quan điểm tương tự.

Bất ngờ là, trong khi Trung Quốc thể hiện sự kiềm chế tham vọng tại Pakistan, thì lại gia tăng sự gây hấn, quả quyết ở Biển Đông. Biển Đông từ lâu là nơi phát sinh căng thẳng giữa Trung Quốc và các láng giềng Đông Nam Á. Trung Quốc và bốn nước Đông Nam Á đều đưa ra tuyên bố chủ quyền với vùng biển này. Vấn đề chủ quyền ở Biển Đông không đơn thuần là niềm tự hào hay kiêu hãnh, mà còn là những lợi ích kinh tế quan trọng do trữ lượng dầu khí khổng lồ, nguồn lợi cá ở vùng biển này.
Vụ việc mới nhất xảy ra ở Biển Đông bắt đầu từ thứ Năm trước, khi các tàu Trung Quốc quấy nhiễu và gây thiệt hại (cắt cáp dầu khí) cho tàu thăm dò địa chấn thuộc Petro Việt Nam khi tàu này tiến hành khảo sát tại lô 148 trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam.

Bộ Ngoại giao Việt Nam lập tức kiên quyết phản đối vụ việc này trong khi Trung Quốc giữ yên lặng cho tới sáng thứ Bảy khi người phát ngôn bộ Ngoại giao Trung Quốc lên tiếng bênh vực hành động của các tàu hải giảm. Bà Khương Du nói: "Những gì mà các cơ quan liên quan của Trung Quốc đã làm là các hoạt động giám sát và thực thi luật pháp hoàn toàn bình thường ở khu vực biển thuộc thẩm quyền tài phán của Trung Quốc”, và thậm chí còn cảnh báo Việt Nam tránh gây ra những rắc rối mới.
Trong khi đó, Philippines, nước có tranh cãi chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông cũng phản ứng mạnh mẽ, thậm chí còn triệu tập đại diện sứ quán Trung Quốc ở Manila để đề cập tới những hành động của tàu thuyền Trung Quốc ở vùng biển mà Manila tuyên bố chủ quyền.

Những tranh cãi mới ở Biển Đông xảy ra vào lúc đại biểu các nước chuẩn bị tham dự Đối thoại Shangri-La – một hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á tại Singapore. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates sẽ tham dự hội nghị và đây cũng là chuyến công du nước ngoài cuối cùng của ông trước khi rời nhiệm sở. Cả ông Gates và người đồng cấp Trung Quốc Lương Quang Liệt đều tham dự hội nghị. Trước đó, Chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ, Đô đốc Robert Willard đã không ngại ngần bày tỏ, ông “lo lắng” về cách hành xử gần đây của Trung Quốc.

Tuy nhiên, sự gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ không leo thang trở thành một cuộc xung đột toàn diện. Cách hành xử của Bắc Kinh ở vùng biển này cũng làm phức tạp hóa chiến lược “chia để trị” mà họ tính toán với ASEAN. Những năm gần đây, Mỹ cũng tiếp cận gần gũi hơn với ASEAN bởi quan ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc. Ví dụ, tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton rằng, Biển Đông là một lợi ích quốc gia của Mỹ đã được ASEAN đánh giá cao. Hơn thế nữa, trong sự thúc giục của các thành viên nổi bật ở quốc hội, chính quyền của Tổng thống Obama đã quyết định bổ nhiệm Đại sứ đầu tiên của Mỹ tại ASEAN hồi đầu năm nay.

[Vietnamnet news]


>> Mỹ cảnh báo Trung Quốc về Biển Đông



Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates hôm 4/6 đã cảnh báo rằng, có những “quan ngại ngày càng gia tăng” về hành động khiêu khích gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông và các vùng biển tranh chấp khác tại châu Á.




Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates Ảnh: Reuters


Gần đây, cả Việt Nam và Philippines đã cáo buộc Trung Quốc hành xử gây hấn ở Biển Đông, làm căng thẳng thêm leo thang ở vùng biển vốn luôn có tranh chấp này.
“Tôi e rằng nếu không có quy tắc của đường đi và phương pháp tiếp cận thống nhất để giải quyết những vấn đề này thì còn sẽ có đụng độ”, ông Gates nói tại Đối thoại Shangri-La, một diễn đàn an ninh cấp cao châu Á.

Khi được hỏi liệu hành động của Trung Quốc có làm xói mòn “câu thần chú” của Bắc Kinh rằng, Trung Quốc đang theo đuổi “sự gia tăng hòa bình”, ông Gates nói: “Tôi không nghĩ rằng tới mức độ ấy”.

Chỉ một tuần trước đây, Việt Nam đã phản đối Trung Quốc “vi phạm nghiêm trọng” luật pháp quốc tế sau khi tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp dầu khí một tàu thăm dò của Việt Nam lúc tàu này tiến hành khảo sát trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam.
Sau đó, Manila đã phản đối Trung Quốc về việc một tàu nước này đã tháo dỡ vật liệu xây dựng ở bãi đá ngầm tại Biển Đông mà Philippines tuyên bố chủ quyền. Philippines cho rằng, thực sự quan ngại khi Bắc Kinh có thể từ bỏ thỏa thuận từ chín năm trước rằng không bắt đầu xây dựng công trình mới ở khu vực tranh chấp tại Biển Đông.

Trong khi ông Gates bày tỏ quan ngại về các vụ việc liên tục xảy ra gần đây, thì bình luận của ông dường như đã “dịu” hơn so với cách tiếp cận đầy cứng rắn trong năm ngoái của chính phủ Mỹ. Tại hội nghị tương tự vào năm 2010, ông Gates đã kêu gọi Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế. Tháng sau đó, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã khiến Bắc Kinh nổi giận khi trong một chuyến thăm Việt Nam đã tuyên bố, Mỹ có lợi ích quốc gia ở Biển Đông.

Tuyên bố cứng rắn của Mỹ năm ngoái là một phần phản ứng lời kêu gọi của các quốc gia Đông Nam Á về vai trò mạnh mẽ hơn của Mỹ trong khu vực để cân bằng với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự căng thẳng giữa Bắc Kinh và Washington sau đó lại làm dấy lên lo lắng rằng, một cường quốc hải quân hiện thời và một Trung Quốc đang trỗi dậy có thể đi vào một cuộc xung đột ở nước láng giềng của họ.
Hôm thứ Sáu, ông Najib Razak, Thủ tướng Malaysia, cũng nhấn mạnh sự quan ngại về tình hình căng thẳng ở Biển Đông khi kêu gọi một trật tự an ninh mà không ép buộc các nước trong khu vực phải lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc.

Trong khi đó, Trung Quốc vẫn tiếp tục cam kết theo đuổi con đường “gia tăng hòa bình”. Học thuyết này bao gồm việc đảm bảo rằng sự gia tăng kinh tế, chính trị và quân sự của Trung Quốc sẽ không đặt ra mối đe dọa nào với các nước khác, và rằng Bắc Kinh sẽ không tìm kiếm vai trò bá quyền.

Ông Lương Quang Liệt, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc và là đại biểu cấp cao nhất mà Bắc Kinh cử tới Đối thoại Shangri-La sẽ nhắc lại thông điệp trên khi ông phát biểu ở diễn đàn vào hôm nay (5/6).

Thái độ “dịu hơn” của Washington với Trung Quốc xuất hiện khi hai nước tìm kiếm các cuộc đối thoại quân sự sâu sắc hơn. Hôm thứ Sáu, các đại biểu Mỹ và Trung Quốc đã tiến hành hội đàm song phương mà hai bên mô tả là “khá thân mật”. Tháng trước, ông Trần Bỉnh Đức, Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã có chuyến công du kéo dài một tuần lễ tới Mỹ.

Ông Gates, người đang thực hiện chuyến thăm châu Á cuối cùng trước khi rời nhiệm sở vào cuối tháng này, nói tại diễn đàn an ninh cấp cao rằng, Mỹ sẽ vẫn duy trì “cam kết quân sự mạnh mẽ” và tăng cường các cuộc thăm cảng, các thỏa thuận hải quân trong khu vực. Ông cũng bác bỏ những quan ngại về áp lực ngân sách với Lầu Năm Góc khi Mỹ đối mặt với tình trạng thâm hụt tài chính trong khi ngân sách quân sự Trung Quốc lại tăng không ngừng nghĩa là ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực sẽ giảm sút.

Ông khẳng định: “Tôi đặt cược 100 USD rằng, năm năm kể từ bây giờ ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực này là mạnh nếu không phải là mạnh hơn như ngày nay”.
[Vietnamnet news]


Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

>> Shangri-La khi Trung Quốc chơi rắn



Khai mạc ngày 3/6, Đối thoại Shangri-La 2011 được giới quan sát đánh giá là "không thể diễn ra vào thời điểm nào hay hơn".

Tâm điểm Biển Đông

Chưa đầy một tuần trước Shangri-La, Trung Quốc cho 3 tàu hải giám xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trước đó 5 ngày, Trung Quốc cho tàu quân sự vào vùng biển của Philippines, đồng minh thân cận của Mỹ ở khu vực. Chơi rắn với láng giềng, người phát ngôn Trung Quốc tuyên bố đó là "hành động bình thường", "hợp lý", thậm chí vu cáo nước khác tạo cớ, làm căng thẳng tình hình.

Giới phân tích cho rằng, thực chất những hành động đó là phép thử của Trung Quốc với từng quốc gia có tranh chấp chủ quyền, với ASEAN với tư cách
một khối thống nhất, với Mỹ với tư cách siêu cường luôn khẳng định sự hiện diện ở khu vực.

Với đặc tính: đối thoại thẳng thắn, tranh luận sắc bén, không ít người dự đoán, Shangri-La năm nay với Trung Quốc khó có thể là thiên đường hạ giới như tên gọi của nó (Shangri-La vốn là tên địa điểm hư cấu trong Lost Horizon của nhà văn Anh James Hilton). Một khi hành xử "vỗ mặt", "bề trên" với láng giềng khu vực, Trung Quốc khó có thể mong đợi gì khác.

Căng thẳng dâng cao được dự đoán sẽ đưa Biển Đông trở thành tâm điểm của nghị trình Shangri-La 2011. Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Phùng Quang Thanh cho hay, ông sẽ chủ động nêu sự kiện 3 tàu hải giám Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, cắt cáp dầu khí của Việt Nam, "để khu vực và thế giới hiểu đúng".

Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin cũng nói rằng ông "sẽ đưa việc Trung Quốc gần đây liên tục xâm nhập trái phép vào vùng đảo mà Philippines tuyên bố chủ quyền ra trước Shangri-La".



Các quan chức tham dự Đối thoại Sangri-La 2011.

Trong nghị trình dự kiến Shangri-La sẽ dành riêng một phiên toàn thể thảo luận về việc ứng phó với các thách thức an ninh biển mới, và một phiên họp hẹp
về tranh chấp lãnh thổ.

Đó là chưa kể việc vấn đề Biển Đông có mối liên hệ chặt chẽ với cuộc phân chia quyền lực mới ở châu Á (một chủ đề khác trong nghị trình Shangri-La 2011), với siêu cường Mỹ có quá nhiều mối bận tâm và gánh nặng ngân sách trong khủng hoảng và một cường quốc đang lên Trung Quốc đang muốn tăng cường ảnh hưởng ở khu vực.

Và cũng không quên việc các quốc gia thành viên sẽ dành trọn một phiên để nghe Trung Quốc nói và nói với Trung Quốc về đóng góp an ninh quốc tế của Trung Quốc. Và việc Trung Quốc biến Biển Đông thực sự là "vùng biển dữ", như tên nhà hàng hải người Anh đặt cho vùng Biển Đông - với các hoạt động phát triển kinh tế, của Việt Nam và các nước, khó tránh bị đặt trên bàn cân.

Đặc biệt, trong bối cảnh Trung Quốc mạnh tay chi cho quốc phòng, trang bị vũ khí, khả năng về một cuộc chạy đua vũ trang và nguy cơ về xung đột nóng là điều các nước tính tới và muốn chặn.

Với cơ chế đối thoại, Shangri-La không chỉ đưa ra các tuyên bố chính sách mà cả các sáng kiến chính sách, không chỉ là những đối thoại mang tính tham vấn mà gồm các kế hoạch để cải thiện sự hợp tác.

Shangri-La mang lại không gian cho đối thoại, dù như giới phân tích nhận định, có thể sẽ không tránh được sự nổi nóng. Bởi mục tiêu của Shangri-La là tạo nên cơ chế để thảo luận minh bạch hơn về các chủ đề an ninh và quốc phòng nhạy cảm nhất.

Không phải ngẫu nhiên sau những cú "chơi rắn" của Trung Quốc ở Biển Đông, đối với Việt Nam và Philippines, ngày 3/6, khi Đối thoại Shangri-La khai mạc tại Singapore, tờ Nhân dân nhật báo của nước này chạy bài viết với tiêu đề, "Shangri-La nên tập trung vào hợp tác".

Phó giám đốc Viện Nghiên cứu Nam và Đông Nam Á, thuộc Viện Quan hệ quốc tế đương đại của Trung Quốc, Zhang Xuegang, tác giả bài báo cho rằng, sự khác biệt, thậm chí va chạm về quan điểm là điều bình thường trong các đối thoại Shangri-La trước đây và điều này có thể hiểu được.

Tuy nhiên, Zhang Xuegang cho rằng: "không nên được sử dụng Đối thoại Shangri-La như là diễn đàn để vài nước nào đó cố tình phê phán, chỉ trích quốc gia khác hay là công cụ để gây áp lực chính trị mang tính đơn phương".

Có lí do để vị học giả Trung Quốc lại sợ bị chỉ trích, nhất là khi nhìn vào hồ sơ Biển Đông. Còn nhớ, năm 2010, Trung Quốc đã từng rát mặt tại các hội nghị an ninh khu vực khi chủ đề Biển Đông liên tục được nhắc tới mà Trung Quốc được chỉ đích danh là thủ phạm gây bất ổn.

Ngay tại Shangri-La 2010, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates trực tiếp đề cập đến tranh chấp Biển Đông và khuyến nghị cách tiếp cận đa phương để giải quyết tranh chấp. "Các bên phải làm việc để giải quyết sự khác biệt thông qua hòa bình, những nỗ lực đa phương phù hợp với thông lệ luật pháp quốc tế".

Theo ông Gates, điều cần hướng tới là kết quả và giải pháp không phải là "zero sum game", khi lợi ích của một nước chống lại lợi ích của các quốc gia khác.

"Cây gậy và củ cà rốt" của Trung Quốc

Hành xử khiêu khích, gây hấn, nay lãnh đạo quân sự Trung Quốc tận dụng diễn đàn Đối thoại để trấn an và giải thích, để cam kết trên lời nói. Cây gậy và củ cà rốt được Trung Quốc đưa ra.

Thế nhưng, như nhà nghiên cứu Dương Danh Dy từng nhấn mạnh, chơi với Trung Quốc, nói về hợp tác là đúng nhưng càng phải nói về những khác biệt.



Thủ tướng Malaysia: ASEAN không muốn phải lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc. Có đủ không gian cho các nước lớn.

Tập trung bàn về việc hợp tác như khuyến nghị của Zhang Xuegang nhưng nói như GS John Chipman, Shangri-La, "không bao giờ tìm cách đối đầu, nhưng cũng không bao giờ lảng tránh việc tranh luận". Và việc bàn chuyện hợp tác sẽ không có ý nghĩa một khi Trung Quốc vẫn hành xử thiếu hợp tác, thiếu trách nhiệm, khăng khăng tự định luật chơi riêng, bất chấp luật pháp và dư luận quốc tế.

Và chừng nào, Trung Quốc vẫn tiếp tục đeo bám chiến lược hiện thực hoá đường lưỡi bò vốn đang bị cộng đồng quốc tế chỉ trích dữ dội, nhằm thực hiện tham vọng độc chiếm Biển Đông thì chừng đó, Biển Đông vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ xung đột, gây bất ổn cho cả khu vực.

Dư luận đang chờ xem liệu Trung Quốc sẽ nói sao với thế giới? Liệu ASEAN sẽ có một tiếng nói chung? Liệu Mỹ, Nhật Bản và các nước khác có lên tiếng đủ mạnh mẽ, để kìm cương "người láng giềng to xác xấu bụng", giữ Biển Đông trong tầm kiểm soát, tránh được xung đột nóng.
[Vitinfo news]


Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2011

>> ASEAN nóng vì Biển Đông



Kể từ sau khi Hà Nội bác bỏ quan điểm của Bắc Kinh trong vụ tàu Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông, báo chí các nước trong khu vực nóng lên từng ngày với các bài đưa tin và bình luận.

The Nation, Thái Lan

Sau 15 năm ngoại giao lặng lẽ và kiên nhẫn trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông, các nước Asean và Trung Quốc dường như đã mệt mỏi bởi không đạt tiến triển cũng như một cơ chế phát triển chung. Số lượng các vụ va chạm hoặc xâm nhập tăng lên trong hai năm gần đây. Philippines và Trung Quốc vừa có một tranh cãi ngoại giao lớn hồi tháng ba khi tàu Trung Quốc đụng độ tàu Philippines.



Hải quân trên đảo Trường Sa Đông đang canh giữ vùng biển đảo thiêng liêng của tổ quốc. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Tuyên bố về quy tắc ứng xử trên biển Đông ký giữa Asean và Trung Quốc năm 2002 đã có đóng góp phần nào duy trì ổn định trên Biển Đông trong những năm qua, nhưng việc thiếu một cơ chế ràng buộc khiến cho tình hình trong tương lai trở nên khó đoán. Các nước trong Asean đang mong muốn sớm có bộ quy tắc ứng xử làm cơ sở cho việc giải quyết trong hòa bình.

Cuộc tranh chấp mang tính khu vực suốt 15 năm qua đã có bước chuyển quan trọng vào tháng 7 năm ngoái khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nêu ra vấn đề an ninh và tự do hàng hải ở Biển Đông, tỏ ra ủng hộ mạnh mẽ hơn đối với quan điểm của Asean. Đi xa hơn, Mỹ còn đề nghị trợ giúp các bên tìm giải pháp ngoại giao.

Điều này chắc chắn đã khiến Ngoại trưởng Dương Khiết Trì của Trung Quốc không bằng lòng. Trong những năm gần đây Bắc Kinh dường như có xu hướng muốn giải quyết tay đôi với từng bên trong tranh chấp ở Biển Đông, trong khi Asean nghiêng về một tiếng nói chung.

Daily Inquirer, Philippines

Nhật báo hàng đầu của quốc đảo này cho biết các quan chức quốc phòng và giới quân sự cấp cao đang họp bàn cách tăng cường lực lượng quân sự trước những hành động mới đây của Trung Quốc trên biển Đông.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin nói, ông muốn Asean có sự tham gia nhiều hơn nữa trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. "Chúng tôi muốn nói chung một tiếng nói của Asean".

Gazmin cũng khẳng định Philippines lựa chọn các giải pháp ngoại giao chứ không đối đầu quân sự.

Manila Standard, Philippines

Tổng thống Philippines Benigno Aquino III đã cảnh báo Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt trong chuyến thăm gần đây của ông này tới Manila rằng, bất cứ hành động khiêu khích nào trong khu vực tranh chấp tại Biển Đông có thể kích động cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực.

Ông Aquino hy vọng sẽ nêu vấn đề Biển Đông trong cuộc gặp gỡ với Quốc vương Brunei Hassanal Bolkiah tuần này. "Chúng ta có rắc rối chung đó là vấn đề Biển Đông", Aquino nói.

"Chúng ta cần có một sự thống nhất trong nội bộ ASEAN. Đó sẽ là cách thức chúng ta giải quyết vấn đề ở Biển Đông".

The Edge, Malaysia

Báo này hôm 31/5 dẫn lời của Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Ahmad Zahid Hamidi cho hay, Mỹ muốn làm rõ với các nước Đông Nam Á rằng sự hiện diện của Mỹ chỉ nhằm duy trì sự ổn định trong khu vực giàu tài nguyên này.

"Họ muốn đảm bảo rằng các nguồn tài nguyên cần được chia sẻ và sử dụng cho sự phát triển của các nước liên quan", ông nói sau khi tiếp Tư lệnh hạm đội Thái Bình dương của Mỹ, Đô đốc Robert Williard.

Ahmad Zahid bình luận rằng việc đối thoại giữa các bên liên quan là nhằm ngăn chặn xung đột có thể xảy ra giữa các nước đang cùng tuyên bố chủ quyền các vùng tranh chấp ở Biển Đông.

Bangkok Post, Thái Lan

Bài bình luận của báo này có tiêu đề "Vấn đề cũ, mối đe dọa mới", cho rằng Biển Đông là một trong những khu vực biển nguy hiểm nhất thế giới, bởi ngoài thiên tai còn tồn tại tranh chấp quốc tế.

Sau một thời gian yên tĩnh, những cơn gió mới lại đang quét qua chính trị Biển Đông.

Cần có sự hợp tác xuyên biên giới, và cả may mắn nữa, để tránh xảy ra xung đột.

Japan Times, Nhật Bản

Báo tiếng Anh hàng đầu của Nhật đăng bài bình luận của Michael Richardson, nghiên cứu viên cấp cao của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á với tựa đề "Trung Quốc tăng cường khai thác và hăm dọa".

Richardson viết: "Trung Quốc vừa khánh thành một giàn khoan dầu khí khổng lồ nhằm củng cố cho những tuyên bố về cái gọi là chủ quyền của họ đối với các đảo, vùng nước, đáy biển ở chính vùng biển là trái tim của Đông Nam Á.

Trung Quốc đòi kiểm soát tới 80% biển Đông, xa về phía nam đến tận ngoài khơi các đảo Natuna của Indonesia và bang Sarawak của Malaysia. Nhưng cho đến nay các hoạt động khai thác dầu khí của Trung Quốc chủ yếu ở phía bắc của Biển Đông. Nay, với sức mạnh quân sự tăng lên cũng như cơn khát nhiên liệu cho nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh, họ ngày càng ngang nhiên trong việc khẳng định và thực thi các tuyên bố về chủ quyền trên Biển Đông để tìm cách khai thác tài ngyên.

Giàn khoan dầu khí khổng lồ nói trên ra mắt cuối tháng 5 với sự phô trương thanh thế trên báo chí Trung Quốc. Giàn cho phép Tập đoàn dầu khí hải dương Trung Quốc khoan khai thác ở độ sâu tới 3.000 mét, gấp 6 lần độ sâu của các giàn khoan của các nước láng giêng. Đây là chiếc đầu tiên trong một loạt giàn khoan lớn mà Trung Quốc có kế hoạch xây dựng.

Với độ cao ngang một tòa nhà 45 tầng, giàn khoan khổng lồ này nếu vừa khoan vừa chế biến xăng dầu, nó có thể gây thảm họa môi trường. Người có nguy cơ gánh chịu thảm họa ấy là các quốc gia có tuyên bố chủ quyền chồng lấn với nhau và với Trung Quốc, ở phía nam Biển Đông. Bản thân Trung Quốc sẽ không sao, bởi nó ở quá xa so với vị trí của giàn khoan nên nếu có tràn thì dầu cũng không tới bờ Trung Quốc.
[Vnexpress news]


Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2011

>> Trung Quốc đang đẩy ASEAN vào vòng tay Mỹ



Sự hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc đang khiến các bên tranh chấp Biển Đông hết sức lo ngại. Tập hợp liên minh ASEAN, tìm đối trọng cân bằng sức mạnh sẽ là một trong những chính sách mà các quốc gia tranh chấp với Trung Quốc lựa chọn.



Trung Quốc đang đẩy ASEAN vào vòng tay Mỹ

Hà Nội đưa ra tuyên bố kháng nghị mạnh mẽ đối với Bắc Kinh về vụ các tàu tuần tra của Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam tại vùng Biển Đông. Theo thông báo ngày 30/5 của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, tàu hải giám Trung Quốc đã tiến sát gần tàu nghiên cứu của Việt Nam đang tiến hành công tác khảo sát tình trạng địa chấn trên bề mặt đáy biển. Các binh sĩ Trung Quốc đã phá những thiết bị nghiên cứu, cắt đứt dây cáp nối tàu Việt Nam với các thiết bị khảo sát đáy biển.

Vấn đề các đảo tranh chấp ở Biển Đông luôn là yếu tố gây bất ổn nghiêm trọng trong khu vực. Cách đây chưa lâu, Philíppin và sau đó là Việt Nam đã gửi Liên hợp quốc công hàm chính thức, khẳng định chủ quyền của nước mình đối với quần đảo Trường Sa. Đó là phản ứng trước việc Bắc Kinh công bố vùng lợi ích của họ bao trùm gần như toàn bộ lãnh thổ vùng biển Đông có trữ lượng dầu khí dồi dào và tài nguyên sinh vật biển rất phong phú. Manila có động thái trên sau khi các tàu hải quân Trung Quốc uy hiếp tàu của Philippin đang tiến hành thăm dò dầu khí trong khu vực tranh chấp.

Bắc Kinh không tỏ thái độ gì trước phản đối chính thức của Philíppin và mấy ngày sau công bố lệnh cấm đánh cá tại một số khu vực vùng biển có những quần đảo tranh chấp. Hà Nội không chấp nhận lệnh cấm này và xem văn bản như là sự vi phạm trắng trợn tới toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và chủ quyền của quốc gia trên các quần đảo và đặc khu kinh tế biển độc quyền xung quanh.

Các nước trong khu vực đang cố gắng giảm độ gay gắt của vấn đề. Năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về cách ứng xử trong vùng biển Đông, theo đó quy định về sự sẵn sàng từ bỏ đối đầu và giải quyết vấn đề quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa thuần túy bằng con đường ngoại giao. Văn kiện ghi nhận sự cần thiết hoạch định một cơ chế giải quyết tranh chấp lãnh thổ, để quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như các vùng biển xung quanh trở thành “khu vực của hòa bình và hợp tác”.

Ông Vasily Mikheev, Phó Giám đốc Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế, cho rằng cuộc tranh chấp xung quanh các quần đảo trên Biển Đông cần và có thể giải quyết bằng nỗ lực của tất cả các bên liên quan. Ông Mikheev nói: “Trung Quốc và ASEAN đã có thỏa thuận cơ bản về cùng chung sử dụng các quần đảo này, về việc tại đây là khu vực phi hạt nhân, khu vực hòa bình... Đó là Tuyên bố về cách ứng xử ở Biển Đông. Nhưng thỏa thuận này mang tính chất văn kiện khung, chỉ xác định những nguyên tắc quan hệ cơ bản. Nhiệm vụ giờ đây là phải làm thế nào để biến thỏa thuận này thành cơ chế hành động thực tiễn, không chia rẽ mà liên kết các quốc gia lại với nhau. Xét trên những tác động tiêu cực thể hiện qua tất cả các động thái ngoại giao thời gian gần đây, tôi cho rằng rằng ban lãnh đạo các nước tuyên bố tham vọng chủ quyền với các quần đảo này cần suy nghĩ kỹ lưỡng, có thái độ tiếp cận nghiêm túc hơn với vấn đề, để biến thỏa thuận khung thành những bước đi thực tế”.

Tuy nhiên, hiện Trung Quốc tỏ ra không vội gì tuân thủ tinh thần và văn bản của Tuyên bố. Các tàu hải giám Trung Quốc tiến hành tuần tra vùng biển quần đảo Hoàng Sa, chiếm tàu đánh cá của Việt Nam và lấy đi các thiết bị đánh bắt hải sản của ngư dân Việt Nam. Bằng hành động cứng rắn ngang nhiên của mình, Trung Quốc thực sự đang buộc các nước láng giềng phải tìm kiếm một đối trọng để cân bằng với thế lực ngày càng tăng của Bắc Kinh trong khu vực. Trong cuộc tìm kiếm đó, các nước ASEAN đang thể hiện mong muốn Mỹ không chỉ duy trì mà còn tăng thêm sự hiện diện tại khu vực. Nguyện vọng đó hiển nhiên được Oasinhtơn hoan nghênh. Năm ngoái, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nói nước Mỹ có “lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải và sự tôn trọng pháp quyền quốc tế tại khu vực Biển Đông”.

ASEAN hy vọng rằng đến năm 2012, mốc đánh dấu 45 năm thành lập tổ chức - sẽ ký kết được Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Luật phải mang tính bắt buộc đối với tất cả các quốc gia trong khu vực. Nếu mục tiêu này trở thành hiện thực, thì Biển Đông sẽ có thể trở thành một khu vực của hòa bình và hợp tác.
[Đài Tiếng nói nước Nga]


Copyright 2012 Tin Tức Quân Sự - Blog tin tức Quân Sự Việt Nam
 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang